Vì sao kinh tế toàn cầu hậu chiến không còn bình thường
English ภาษาไทย Español Português 한국어 简体中文 繁體中文 日本語 Bahasa Indonesia Монгол ئۇيغۇر تىلى العربية Русский हिन्दी

Vì sao kinh tế toàn cầu hậu chiến không còn bình thường

Tác giả: Michael Harris

Đã được xét duyệt bởi: Nhóm Nghiên cứu & Đánh giá EBC

Đăng vào: 2026-04-08

  • Đường ống vòng tránh qua Yanbu của Ả Rập Xê Út hiện vận hành với công suất 7 triệu thùng/ngày. Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất cũng đã chuyển hướng qua Fujairah. Những thay đổi về hạ tầng này sẽ không thể đảo ngược chỉ vì một lệnh ngừng bắn.

  • Phí bảo hiểm vận chuyển đã tăng vọt từ 0.125% lên hơn 10% giá trị con tàu trong giai đoạn khủng hoảng. Sau chiến tranh, mặt bằng phí sẽ hạ nhiệt nhưng vẫn neo ở mức cao hơn rất nhiều so với trước đó, qua đó tái định giá lâu dài chi phí thương mại toàn cầu.

  • Các chính phủ trên khắp thế giới đã rút cạn dự trữ chiến lược, nới rộng thâm hụt ngân sách và cam kết chi tiêu quốc phòng trong nhiều năm, khiến lịch phát hành trái phiếu thay đổi cho tới tận năm 2030.

  • Cuộc chiến đã thúc đẩy hạ tầng thanh toán bằng nhân dân tệ, các thỏa thuận thương mại song phương không qua đồng đô la và làn sóng tích lũy vàng của ngân hàng trung ương. Không yếu tố nào trong số này sẽ bị tháo gỡ chỉ vì một lệnh ngừng bắn.


Chiến tranh rồi sẽ kết thúc. Nhưng nền kinh tế do nó tạo ra thì không. Chỉ trong năm tuần xung đột, cách dầu mỏ được vận chuyển, cách thương mại được bảo hiểm, cách chính phủ huy động vốn và cách các quốc gia thanh toán cho nhau đã bị vẽ lại.


Một phần trong số những thay đổi này bị ép buộc bởi khủng hoảng. Phần lớn còn lại thực ra đã âm thầm hình thành từ trước. Nền kinh tế xuất hiện sau cú sốc này sẽ mang theo những vết sẹo cấu trúc mà không một lệnh ngừng bắn nào có thể xóa đi.

Kiến trúc năng lượng đã được xây dựng lại

Diễn đàn Kinh tế Thế giới đã nói rất rõ: những gì khởi đầu là một cú sốc trên chiến trường đang dần đóng rắn thành cú sốc địa kinh tế. Phí bảo hiểm tăng lên, các quyết định đầu tư bị trì hoãn, chuỗi cung ứng bị bẻ hướng và niềm tin vào sự ổn định của Vùng Vịnh bị bào mòn. Xung đột kéo dài càng lâu, thiệt hại để lại càng bền.


Kiến trúc năng lượng đã được tái thiết

Việc chuyển hướng đường ống mang tính lâu dài

Ả Rập Xê Út đã đưa đường ống Đông - Tây lên công suất tối đa 7 triệu thùng/ngày, chuyển dầu thô từ bờ Vịnh sang cảng Yanbu trên Biển Đỏ.


Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất cũng đã nâng công suất tuyến ống dầu thô Abu Dhabi tới Fujairah lên 1.6 triệu thùng/ngày. Gộp lại, các tuyến vòng tránh này hiện xử lý khoảng 5.5 đến 6 triệu thùng/ngày, so với 17 triệu thùng trước đây đi qua eo biển Hormuz.


Hạ tầng này ban đầu được xây dựng như một phương án dự phòng. Giờ đây, nó đang hoạt động như năng lực xuất khẩu chủ lực. Các khoản đầu tư để mở rộng cảng Yanbu, bảo vệ các tuyến tàu dầu qua Biển Đỏ và thiết lập các mối quan hệ phân bổ mới với người mua châu Á đều là chi phí chìm, và sẽ không bị gạt bỏ ngay cả khi Hormuz mở cửa trở lại.


Ả Rập Xê Út đã chứng minh rằng họ vẫn có thể phục vụ khách hàng mà không cần dựa vào eo biển Hormuz. Điều này không chỉ làm thay đổi toàn bộ cách thị trường tính toán cho mọi cuộc khủng hoảng sau này, mà còn trực tiếp tái định hình các mô hình nhận định xu hướng giá dầu đen trong năm 2026.


Quá trình đa dạng hóa năng lượng của châu Á đang tăng tốc

Lệnh cấm vận dầu mỏ năm 1973 đã thúc đẩy chương trình hạt nhân của Pháp, còn cuộc cách mạng Iran năm 1979 đã đẩy nhanh nỗ lực nâng hiệu quả năng lượng của Nhật Bản. Cuộc khủng hoảng năm 2026 cũng đang tạo ra phản ứng tương tự trên khắp châu Á: Philippines và Thái Lan tăng phát điện bằng than, Việt Nam đàm phán hợp đồng than để tiết kiệm LNG, Indonesia thúc đẩy nhanh hơn chương trình pha trộn biodiesel, còn Nhật Bản cam kết xả 80 triệu thùng từ kho dự trữ.


Đây đều là những quyết định đầu tư có vòng đời dài và sẽ không đảo chiều chỉ vì một lệnh ngừng bắn.


Những quốc gia từng phải trải qua tình trạng phân phối nhiên liệu theo định mức, hủy chuyến bay và áp dụng tuần làm việc bốn ngày sẽ không quay lại với cơ cấu năng lượng cũ. Dòng vốn đang được rót vào năng lượng tái tạo, điện hạt nhân và sản xuất nội địa hôm nay sẽ làm giảm mức phụ thuộc của châu Á vào dầu nhập khẩu trong nhiều thập kỷ tới.


Chi phí vận tải và bảo hiểm sẽ cao hơn một cách lâu dài

Trước chiến tranh, phí bảo hiểm vận chuyển cho các chuyến đi qua Hormuz chỉ ở mức 0.125% giá trị con tàu. Trong giai đoạn khủng hoảng, mức phí này đã vượt 10%, và thậm chí một số công ty bảo hiểm còn rút hoàn toàn phạm vi bảo hiểm. Sau chiến tranh, mặt bằng phí sẽ không thể quay về gần mức cũ.


Tiền lệ đã được thiết lập: Hormuz không còn chỉ là một điểm nghẽn có thể bị đe dọa, mà đã được chứng minh là có thể bị đóng hoàn toàn trong nhiều tuần. Các nhà phân tích trong ngành dự báo phí sau chiến tranh sẽ ổn định quanh 1% đến 2% giá trị con tàu, đồng nghĩa với một lần tái định giá mang tính lâu dài và cuối cùng sẽ được cộng vào chi phí của mọi loại hàng hóa đi qua Vùng Vịnh.


Giá thuê tàu tới Yanbu đã tăng gấp đôi, các tuyến tàu dầu đang được tái cấu trúc quanh Biển Đỏ và Mũi Hảo Vọng, còn các hành trình dài hơn này khiến mỗi chuyến đi đội thêm vài ngày cùng hàng trăm nghìn đô la chi phí.


Vị thế tài khóa đã thay đổi về mặt cấu trúc

Các chính phủ trên toàn cầu đã ứng phó với khủng hoảng bằng cách rút kho dự trữ, mở rộng trợ cấp và cam kết chi tiêu quốc phòng trong nhiều năm. Những yếu tố này sẽ tái định hình sâu sắc các quyết định điều hành tài khóa quốc gia trong thời gian dài, và đây chắc chắn không phải là trạng thái có thể phục hồi ngay lập tức.


Dự trữ đang bị bào mòn

Nhật Bản đã giải phóng 80 triệu thùng từ kho dự trữ dầu chiến lược, trong khi IEA phối hợp xả 400 triệu thùng trên toàn bộ các nước thành viên.


Kho Dự trữ Dầu mỏ Chiến lược của Mỹ hiện chỉ còn 345 triệu thùng sau các đợt rút trong giai đoạn 2022 - 2023 mà không được bổ sung trở lại. Việc tái xây dựng các kho dự trữ này ở mặt bằng giá hiện nay sẽ mất nhiều năm và tiêu tốn hàng trăm tỷ đô la.


Thâm hụt ngày càng nới rộng

Thâm hụt tài khóa của Indonesia nhiều khả năng sẽ vượt ngưỡng pháp lý 3%. Trong khi đó, Thái Lan và Việt Nam đã cạn quỹ bình ổn giá nhiên liệu.


Đức được dự báo sẽ theo đuổi chính sách tài khóa mở rộng mạnh trong năm 2026. Các cam kết chi tiêu quốc phòng trên khắp NATO và châu Á sẽ kéo theo lượng phát hành trái phiếu lớn, gây áp lực chèn ép ngân sách tới tận cuối thập kỷ.


IMF cảnh báo rằng “mọi con đường đều dẫn tới giá cao hơn và tăng trưởng chậm hơn”. WTO ước tính giá năng lượng tăng cao có thể làm giảm tăng trưởng GDP toàn cầu năm 2026 khoảng 0.3 điểm phần trăm.


Oxford Economics đã hạ dự báo tăng trưởng của GCC xuống 1.8 điểm phần trăm. Những dự báo này đều giả định xung đột sẽ kết thúc, nhưng các cam kết tài khóa vẫn sẽ tồn tại bất kể điều đó.


Quan hệ giữa tiền tệ và dự trữ đã dịch chuyển

Cuộc chiến đã đẩy nhanh quá trình tái cấu trúc cách các quốc gia thanh toán thương mại, nắm giữ dự trữ và quản lý rủi ro tiền tệ. Chính sách đổi nhân dân tệ lấy Hormuz của Iran đã tạo ra hành lang petroyuan vận hành đầu tiên, trong khi việc Saudi Arabia tham gia mBridge và không gia hạn petrodollar đã chính thức hóa hạ tầng thanh toán bằng nhân dân tệ.


Các ngân hàng trung ương đã mạnh tay mua hơn 1,200 tonnes vàng trong năm 2025, đánh dấu năm thứ ba liên tiếp vượt mốc 1,000 tonnes khi quá trình tích lũy kim loại quý vào kho an toàn quốc gia đang diễn ra ở quy mô chưa từng có.


Tỷ trọng của đồng đô la trong dự trữ toàn cầu đã giảm xuống khoảng 57%, mức thấp nhất kể từ năm 1994, phản ánh xu hướng đa dạng hóa mà cuộc chiến này làm tăng tốc chứ không phải tạo ra từ đầu.


Một thỏa thuận ngừng bắn sẽ không thể đảo ngược nền tảng mBridge, các thỏa thuận hoán đổi tiền tệ song phương hay lượng vàng đã nằm sẵn trong kho của các ngân hàng trung ương. Hệ thống đường ống tài chính đã bị chuyển hướng theo cách mang tính lâu dài.


Sự phục hồi sẽ không diễn ra đồng đều

Phân tích của Chatham House cho thấy nếu xung đột chỉ diễn ra trong ngắn hạn, tác động tới GDP toàn cầu sẽ tương đối khiêm tốn nhưng phân bổ rất không đồng đều. Mỹ, với vị thế là nhà sản xuất dầu lớn nhất thế giới và mức phụ thuộc rất thấp vào Hormuz, sẽ chống chịu cú sốc tốt hơn châu Âu hoặc châu Á. Khu vực đồng euro có thể suy giảm trong quý 2 trước khi đi ngang.


Oxford Economics dự báo ngành dầu mỏ của GCC có thể bật tăng trở lại 18.2% vào năm 2027, nhưng du lịch sẽ phục hồi chậm hơn. Iran đối mặt với mức co lại 9.4% trong năm 2026. Những quốc gia bị thiếu hụt nhiên liệu nghiêm trọng nhất cũng sẽ là những nước đa dạng hóa nhanh nhất, qua đó giảm vĩnh viễn mức độ phơi nhiễm với năng lượng vùng Vịnh.


Câu hỏi thường gặp

Giá dầu có quay lại mức trước chiến tranh sau một thỏa thuận ngừng bắn không?

Giá dầu có thể hạ từ đỉnh khủng hoảng, nhưng khả năng trở lại hoàn toàn vùng $60-$70 trong ngắn hạn là rất thấp. Hạ tầng bị hư hại, phí bảo hiểm cao hơn và kho dự trữ chiến lược bị bào mòn đều đang tạo ra một mặt bằng giá sàn mang tính cấu trúc cao hơn.


Những nền kinh tế nào sẽ phục hồi nhanh nhất sau chiến tranh?

Mỹ đang ở vị thế thuận lợi nhất nhờ sản xuất năng lượng trong nước và mức phụ thuộc thấp vào Hormuz. Ngành dầu mỏ của GCC có thể phục hồi mạnh vào năm 2027. Trong khi đó, châu Âu và châu Á sẽ hồi phục chậm hơn vì phụ thuộc nhập khẩu và chịu sức ép tài khóa lớn hơn.


Eo biển Hormuz có còn an toàn cho vận tải sau chiến tranh không?

Ngay cả khi đạt được thỏa thuận ngừng bắn, rủi ro bị phong tỏa đã được chứng minh rõ ràng và sẽ khiến phí bảo hiểm neo ở mức cao. Các nhà phân tích cho rằng phí bảo hiểm sẽ ổn định quanh 1% đến 2% giá trị con tàu, cao hơn rất nhiều so với mức 0.125% trước chiến tranh.


Chiến tranh sẽ ảnh hưởng tới lạm phát trong dài hạn như thế nào?

OECD và IMF đều dự báo lạm phát sẽ cao hơn trong suốt năm 2026 và kéo sang năm 2027. Chi phí năng lượng tăng, tình trạng thiếu hụt phân bón và thâm hụt tài khóa nới rộng sẽ kích hoạt nhiều hình thái lạm phát đa chiều, góp phần duy trì áp lực giá tiêu dùng lâu hơn chính bản thân cuộc xung đột.


Phi đô la hóa có mang tính lâu dài không?

Hạ tầng được hình thành trong khủng hoảng, bao gồm các hành lang thanh toán bằng nhân dân tệ, tích hợp mBridge và quá trình tăng tốc tích trữ vàng, sẽ không bị đảo ngược chỉ vì một thỏa thuận ngừng bắn. Đồng đô la Mỹ vẫn giữ vai trò chi phối, nhưng hệ thống hiện nay đã phân mảnh hơn trước.


Kết luận

Mỗi cú sốc dầu lớn trong lịch sử đều kéo theo một phản ứng chính sách kéo dài lâu hơn chính cuộc khủng hoảng: lệnh cấm vận năm 1973 đã đặt nền móng cho hệ thống điện hạt nhân của Pháp, cuộc cách mạng năm 1979 đã tái định hình hiệu quả năng lượng của Nhật Bản, và khủng hoảng Hormuz năm 2026 cũng đang tạo ra những phản ứng dài hạn của riêng nó thông qua việc chuyển hướng đường ống, đa dạng hóa dự trữ, xây dựng hạ tầng thanh toán bằng nhân dân tệ và các cam kết chi tiêu quốc phòng.


Những thay đổi mang tính cấu trúc này sẽ định hình sâu sắc quy mô chi tiêu công cũng như các bước đi thắt chặt hay nới lỏng cung tiền cho tới tận cuối thập kỷ. Cuộc chiến rồi sẽ kết thúc, nhưng nền kinh tế mà nó để lại sẽ không còn giống nền kinh tế mà nó từng làm gián đoạn.


Miễn trừ trách nhiệm: Bài viết này chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin và không cấu thành lời khuyên tài chính. Hãy luôn tự nghiên cứu kỹ trước khi đưa ra quyết định giao dịch.