Đăng vào: 2026-07-22
Cập nhật vào: 2026-07-22
Mặt bằng lãi suất ngân hàng ngày 22/7/2026 gần như đứng yên so với phiên liền trước, nhưng độ phân tán giữa các nhà băng đang ở mức lớn hiếm thấy. Nhóm ngân hàng quốc doanh gồm Agribank, Vietcombank, BIDV và VietinBank cùng duy trì mức cao nhất 6,0%/năm, chủ yếu ở kỳ hạn từ 24 tháng trở lên. Trong khi đó, HDBank đang dẫn đầu thị trường với 7,6%/năm cho một sản phẩm kỳ hạn 13 tháng tại quầy, MB trả tới 7,0%/năm từ kỳ hạn 24 tháng, còn sản phẩm chứng chỉ tiền gửi huy động vốn online của BVBank được công bố tới 8,2%/năm. Ở nhóm ngân hàng số, mức lãi suất thực nhận được quảng bá đã chạm 9,2%/năm nhờ chương trình cộng thêm biên độ.
Khoảng cách giữa con số cao nhất trên tiêu đề và số tiền lãi thực sự chảy vào tài khoản người gửi, vì vậy, đang rộng hơn bao giờ hết. Một mức 9,2%/năm chỉ có ý nghĩa nếu người gửi thuộc đúng nhóm khách hàng được ưu đãi, đúng kênh gửi, đúng kỳ hạn và giữ đủ thời gian cam kết. Với lạm phát bình quân sáu tháng đầu năm 2026 ở mức 4,38%, câu hỏi đáng tiền hơn không phải "ngân hàng nào lãi suất cao nhất" mà là kỳ hạn nào tạo ra lãi suất thực dương tốt nhất sau khi trừ lạm phát, trừ rủi ro độ thanh khoản linh hoạt của dòng tiền và trừ chi phí cơ hội khi phải rút trước hạn.

Mức cao nhất thị trường thuộc về sản phẩm có điều kiện, không phải biểu niêm yết đại trà. HDBank giữ 7,6%/năm cho kỳ hạn 13 tháng "loại 1" tại quầy, nhưng chỉ áp dụng khi khách hàng đáp ứng yêu cầu riêng về quy mô tiền gửi. Cùng ngân hàng này, biểu online phổ thông kỳ hạn 12 tháng chỉ 5,3%/năm, chênh tới 2,3 điểm phần trăm.
Nhóm Big4 thấp hơn mặt bằng chung một cách có hệ thống. Vietcombank, BIDV và VietinBank cùng áp dụng 2,1%/năm cho 1 tháng, 2,4%/năm cho 3 tháng, 3,5%/năm cho 6 và 9 tháng, 5,9%/năm cho 12 tháng và 6,0%/năm từ 24 tháng. Agribank nhỉnh hơn ở kỳ hạn ngắn với 2,6%/năm và 2,9%/năm, đạt 4,0%/năm ở kỳ hạn 6 và 9 tháng.
Vùng 6 đến 12 tháng là nơi cạnh tranh khốc liệt nhất của khối cổ phần. Sacombank trả 6,4%/năm cho 6 và 9 tháng, 6,6%/năm cho 12 tháng trên kênh online. Techcombank áp dụng 5,95%/năm cho 6 đến 11 tháng và 6,15%/năm cho 12 tháng với khách hàng thông thường. MB, VPBank và ACB nằm trong vùng 4,9% đến 6,3%/năm tùy kênh và quy mô tiền gửi.
Chứng chỉ tiền gửi đang trả cao hơn gửi tiết kiệm ngân hàng truyền thống cùng kỳ hạn, đổi lại là tính thanh khoản kém hơn. BVBank phát hành chứng chỉ tiền gửi online tới 8,2%/năm cho kỳ hạn 6, 9 và 12 tháng, lãi cuối kỳ, tối thiểu 10 triệu đồng, triển khai từ 17/7/2026 và kết thúc khi đạt hạn mức phát hành 1.000 tỷ đồng hoặc hết 31/12/2026. VPBank niêm yết 7,8%/năm cho kỳ hạn 184 đến 209 ngày, MB ở mức 7,1%/năm cho kỳ hạn 6 tháng.
mức lãi vay ngân hàng tính cho doanh nghiệp bình quân đã lên vùng 8,1% đến 10,5%/năm. Đây là số liệu tháng 6/2026 của Ngân hàng Nhà nước, tính cho cả khoản vay mới và dư nợ hiện hữu của nhóm ngân hàng thương mại nhà nước và nhóm cổ phần. Riêng cho vay ngắn hạn với lĩnh vực ưu tiên giữ khoảng 3,9%/năm, thấp hơn trần quy định 4%/năm.
Lãi suất khó giảm mạnh vì tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống đang chạy nhanh hơn huy động. Đến 26/6/2026, tín dụng toàn nền kinh tế tăng 7,41% trong khi huy động vốn của các tổ chức tín dụng chỉ tăng 5,02%, chênh lệch 2,39 điểm phần trăm. Đến 29/6, dư nợ toàn hệ thống đạt 20,03 triệu tỷ đồng, tăng 7,73% so với cuối năm 2025.
Lãi suất thực mới là thước đo cuối cùng. Với chỉ số giá tiêu dùng CPI bình quân sáu tháng tăng 4,38%, tiền gửi kỳ hạn dưới 6 tháng gần như chỉ bảo toàn sức mua, còn kỳ hạn từ 6 tháng trở lên mới tạo lãi suất thực dương rõ rệt. Người gửi nên tính bằng điểm phần trăm thực, không tính bằng con số niêm yết.
Một thay đổi pháp lý đáng chú ý với người gửi tiền. Từ ngày 13/7/2026, hạn mức chi trả bảo hiểm tiền gửi tăng từ 125 triệu đồng lên 350 triệu đồng cho toàn bộ khoản tiền gửi được bảo hiểm, gồm cả gốc và lãi, của một người tại một tổ chức định chế tài chính ngân hàng. Yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp tới cách phân bổ tiền gửi giữa nhiều ngân hàng.
Bảng dưới đây lấy trực tiếp từ biểu lãi suất công bố của từng ngân hàng ngày 22/7/2026, đơn vị %/năm, trả lãi cuối kỳ. Cột ghi chú nêu rõ kênh gửi và điều kiện áp dụng, vì cùng một ngân hàng có thể chênh nhau vài điểm phần trăm giữa các kênh và các hạng khách hàng.
| Ngân hàng | 1 tháng | 3 tháng | 6 tháng | 9 tháng | 12 tháng | 18 tháng | Ghi chú điều kiện |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Agribank | 2,6 | 2,9 | 4,0 | 4,0 | 5,9 | 5,9 | Biểu khách hàng cá nhân. Cao nhất 6,0% ở kỳ hạn 24 tháng |
| Vietcombank | 2,1 | 2,4 | 3,5 | 3,5 | 5,9 | không niêm yết | Online và tại quầy bằng nhau. Cao nhất 6,0% ở 24 tháng. Kỳ hạn 36 đến 60 tháng chỉ 5,3% |
| BIDV | 2,1 | 2,4 | 3,5 | 3,5 | 5,9 | 5,9 | Tại quầy. Kỳ hạn 24 và 36 tháng cùng 6,0% |
| VietinBank | 2,1 | 2,4 | 3,5 | 3,5 | 5,9 | 5,9 | Tại quầy. Từ 24 tháng trở lên 6,0% |
| Sacombank | 4,5 | 4,5 | 6,4 | 6,4 | 6,6 | 6,6 | Kênh online. Tại quầy thấp hơn: 6 tháng 6,2%, 12 tháng 5,9%. Online 24 và 36 tháng đạt 6,9% |
| MB | 4,5 | 4,65 | 5,7 | 5,7 | 6,3 | 6,3 | Tiền gửi số, khách hàng Mass, dưới 1 tỷ đồng. Từ 24 tháng trở lên 7,0%. Priority và Private cao hơn 0,05 đến 0,1 điểm |
| Techcombank | 3,95 | 4,25 | 5,95 | 5,95 | 6,15 | 5,25 | Tiết kiệm thường, khách hàng phổ thông. Sản phẩm Phát Lộc cao hơn khoảng 0,1 điểm. Khách Private có thể tới 6,4% ở 12 tháng |
| VPBank | 4,45 | 4,65 | 5,8 | 5,8 | 6,1 | 6,0 | Online, khoản gửi dưới 1 tỷ đồng. Gửi từ 10 tỷ đồng, kỳ hạn 12 tháng lên 6,4% |
| ACB | 4,5 | 4,7 | 4,9 | 5,1 | 5,7 | không niêm yết | Online, khoản gửi dưới 200 triệu đồng. Gửi từ 5 tỷ đồng, 12 tháng đạt 5,9%. Biểu tại quầy thấp hơn |
| HDBank | 4,2 | 4,3 | 5,0 | 4,8 | 5,3 | 5,6 | Kênh online phổ thông. Riêng sản phẩm 13 tháng "loại 1" tại quầy đạt 7,6%, chỉ áp dụng khi đủ điều kiện về số tiền gửi |
Ngoài nhóm trên, khảo sát thị trường ghi nhận một số các hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần quy mô vừa và nhỏ đang niêm yết cao hơn ở vùng 6 đến 12 tháng, phổ biến từ 6,2% đến 7,2%/năm, trong đó Bac A Bank quanh 7,05% đến 7,1%/năm. Cần lưu ý rằng số liệu tổng hợp trên các trang so sánh đôi khi lệch nhau đáng kể so với biểu chính thức của chính ngân hàng đó, nên người gửi phải đối chiếu lại trên website hoặc ứng dụng của ngân hàng trước khi quyết định.
Đây là nhóm số liệu hay bị hiểu nhầm nhất, vì các con số 8% và 9% xuất hiện dày đặc trên tiêu đề nhưng đi kèm điều kiện rất chặt.
| Sản phẩm | Mức công bố | Điều kiện thực tế |
|---|---|---|
| Cake by VPBank, kỳ hạn 10 đến 12 tháng | tới 9,2%/năm | Niêm yết 7,4% cộng ưu đãi 1,8 điểm phần trăm. Chỉ dành cho khách gửi lần đầu trên ứng dụng, sản phẩm tiền gửi tiêu chuẩn và tích lũy, từ 100.000 đồng |
| Cake by VPBank, kỳ hạn 6 tháng | tới 9,0%/năm | Niêm yết 7,2% cộng 1,8 điểm phần trăm, cùng điều kiện gửi lần đầu |
| Chứng chỉ tiền gửi online BVBank | tới 8,2%/năm | Kỳ hạn 6, 9 và 12 tháng, lãi cuối kỳ, tối thiểu 10 triệu đồng. Kỳ hạn 15 tháng hoặc nhận lãi hàng tháng chỉ 7,64% đến 8,06%. Hết hạn mức 1.000 tỷ đồng hoặc hết 31/12/2026 là dừng |
| Chứng chỉ tiền gửi VPBank | 7,8%/năm | Kỳ hạn 184 đến 209 ngày, áp dụng cho khoản mua từ 10 triệu đến dưới 100 triệu đồng |
| Chứng chỉ tiền gửi MB | 7,1%/năm | Kỳ hạn 6 tháng. Kỳ hạn 3 đến 5 tháng ở mức 7,0% |
| HDBank, kỳ hạn 13 tháng loại 1 | 7,6%/năm | Tại quầy, chỉ áp dụng khi đáp ứng điều kiện riêng về quy mô tiền gửi |
| MB, từ kỳ hạn 24 tháng | 7,0%/năm | Áp dụng cả kênh online cho khách hàng phổ thông, không đòi hỏi số dư lớn |
| Sacombank online, 24 và 36 tháng | 6,9%/năm | Không kèm điều kiện đặc biệt về số tiền |
| Vikki Bank, kỳ hạn 13 tháng | 7,9%/năm | Cộng biên độ vào lãi suất niêm yết, áp dụng cho khoản gửi từ 999 tỷ đồng |
Ngân hàng cổ phần quy mô vừa và nhỏ trả lãi cao hơn không phải vì hào phóng, mà vì họ trả giá cho một bất lợi cấu trúc. Nhóm này có tỷ lệ nguồn tiền gửi không kỳ hạn CASA thấp, mạng lưới mỏng, thương hiệu yếu hơn và ít nguồn vốn giá rẻ từ khách hàng doanh nghiệp lớn hay Kho bạc Nhà nước. Để giữ và hút được tiền gửi, họ buộc phải bù bằng lãi suất, hoặc bằng các chương trình cộng biên độ có điều kiện.
Điều này thể hiện rất rõ qua chênh lệch trong cùng một ngân hàng. Sacombank trả 6,4%/năm cho kỳ hạn 6 tháng qua kênh online nhưng chỉ 6,2%/năm tại quầy. VPBank áp dụng 5,8%/năm cho khoản dưới 1 tỷ đồng và 6,1%/năm cho khoản từ 10 tỷ đồng ở cùng kỳ hạn 6 tháng. ACB phân tầng từ 5,7% đến 5,9%/năm ở kỳ hạn 12 tháng tùy quy mô gửi. Nói cách khác, lãi suất ngân hàng hiện nay không còn là một con số, mà là một ma trận theo kênh gửi, quy mô tiền, hạng khách hàng và thời điểm gửi.
Chênh lệch giữa Big4 và khối cổ phần ở kỳ hạn 6 tháng lên tới 2,9 điểm phần trăm nếu so Vietcombank 3,5%/năm với Sacombank online 6,4%/năm. Đây là mức chênh rất lớn theo chuẩn của thị trường tiền gửi.
Cái người gửi nhận lại khi chấp nhận lãi suất thấp hơn là ba thứ: quy mô bảng cân đối tài chính ngân hàng và mức độ an toàn hệ thống, mạng lưới giao dịch phủ rộng tới cấp xã, và sự ổn định của biểu lãi suất qua các chu kỳ. Với khoản tiền lớn vượt xa hạn mức bảo hiểm tiền gửi 350 triệu đồng, yếu tố an toàn tổ chức không còn là chuyện lý thuyết mà là một biến số định lượng được, vì phần vượt hạn mức phụ thuộc hoàn toàn vào năng lực tài chính của chính ngân hàng.
Ngoài ra, biểu lãi suất Big4 tạo ra hiệu ứng dây chuyền lên chi phí vay của cả nền kinh tế. Nhiều hợp đồng vay dài hạn dùng chính lãi suất tiết kiệm 12 hoặc 13 tháng của nhóm quốc doanh làm lãi suất tham chiếu để thả nổi. Big4 giữ 12 tháng ở 5,9%/năm giúp kìm bớt tốc độ tăng của lãi suất vay thả nổi cho hàng triệu khoản vay mua nhà.
Kỳ hạn dưới 6 tháng bị khống chế bởi trần điều hành, nên các ngân hàng gần như không còn dư địa cạnh tranh, dẫn tới hiện tượng hàng loạt nhà băng cùng niêm yết đúng 4,75%/năm cho kỳ hạn 3 đến 5 tháng. Muốn giành tiền gửi, họ phải đẩy cuộc chơi lên vùng không bị trần.
Kỳ hạn 6 đến 12 tháng còn là vùng vàng về mặt quản trị nguồn vốn. Nó đủ dài để cải thiện cơ cấu kỳ hạn và tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn, nhưng vẫn đủ ngắn để người gửi chấp nhận khóa tiền. Đẩy lên 24 tháng thì chi phí vốn cố định quá lâu trong bối cảnh chưa rõ đỉnh lãi suất, còn rút xuống dưới 6 tháng thì vô nghĩa vì bị trần chặn.
Dữ liệu liên ngân hàng xác nhận đúng điểm nghẽn này. Trong tuần 13 đến 17/7/2026, mặt bằng lãi suất trên thị trường liên ngân hàng qua đêm chỉ còn quanh 4,16%/năm và kỳ hạn 1 tuần ở 4,74%/năm, nhưng kỳ hạn 1 tháng lại tăng lên 7,17%/năm và kỳ hạn 3 tháng lên 8,11%/năm. Thanh khoản tức thời đã dịu, nhưng vốn có kỳ hạn vẫn đắt.
Công thức đơn giản mà người gửi nào cũng nên thuộc: lãi suất thực xấp xỉ bằng lãi suất danh nghĩa trừ đi tỷ lệ lạm phát thực tế của nền kinh tế. Nếu gửi 7%/năm mà giá cả tăng 4,38% thì sức mua của tiền chỉ thực sự tăng khoảng 2,62 điểm phần trăm, phần còn lại chỉ để bù trượt giá.
Lấy CPI bình quân sáu tháng đầu năm 2026 là 4,38% làm mốc, bức tranh lãi suất thực theo số liệu bình quân toàn hệ thống tháng 6/2026 của Ngân hàng Nhà nước như sau.
| Nhóm kỳ hạn tiền gửi VND | Lãi suất bình quân tháng 6/2026 | Lãi suất thực ước tính sau CPI 4,38% |
|---|---|---|
| Không kỳ hạn và dưới 1 tháng | 0,1% đến 0,2% | -4,28 đến -4,18 điểm phần trăm |
| Từ 1 tháng đến dưới 6 tháng | 4,0% đến 4,6% | -0,38 đến +0,22 điểm phần trăm |
| Từ 6 tháng đến 12 tháng | 6,1% đến 7,6% | +1,72 đến +3,22 điểm phần trăm |
| Trên 12 tháng đến 24 tháng | 5,9% đến 7,3% | +1,52 đến +2,92 điểm phần trăm |
| Trên 24 tháng | 7,1% đến 7,8% | +2,72 đến +3,42 điểm phần trăm |
| Cho vay bình quân | 8,1% đến 10,5% | +3,72 đến +6,12 điểm phần trăm |
| Cho vay ngắn hạn lĩnh vực ưu tiên | khoảng 3,9% | khoảng -0,48 điểm phần trăm |
Ba kết luận rút ra từ bảng này.
Thứ nhất, kỳ hạn dưới 6 tháng gần như trung hòa với lạm phát. Vùng 4,0% đến 4,6%/năm nằm sát ngay mốc CPI 4,38%. Tiền gửi ngắn hạn vì vậy nên được nhìn như một công cụ giữ thanh khoản, không phải công cụ sinh lời. Riêng tiền gửi không kỳ hạn đang mất sức mua hơn 4 điểm phần trăm mỗi năm, đây chính là chi phí ẩn của thói quen để tiền nằm im trong tài khoản thanh toán.
Thứ hai, khoảng cách lãi suất thực giữa kỳ hạn ngắn và kỳ hạn từ 6 tháng trở lên lên tới khoảng 3 điểm phần trăm. Đây là mức phần thưởng rất đáng kể cho việc chấp nhận khóa vốn thêm vài tháng. Với 500 triệu đồng, chênh lệch 3 điểm phần trăm tương đương khoảng 15 triệu đồng sức mua mỗi năm.
Thứ ba, và đây là chi tiết hầu như không bài nào nhắc tới, doanh nghiệp thuộc lĩnh vực ưu tiên đang vay với lãi suất thực âm. Mức 3,9%/năm thấp hơn CPI 4,38%, nghĩa là chi phí vốn thực của họ vào khoảng âm 0,48 điểm phần trăm. Trong khi đó, doanh nghiệp ngoài nhóm ưu tiên chịu chi phí vốn thực dương từ 3,72 đến 6,12 điểm phần trăm. Đây là một trong những khoảng cách chính sách lớn nhất của thị trường tín dụng hiện nay.
Đây là rủi ro bị đánh giá thấp nhất khi chạy theo lãi suất cao. Khi rút trước hạn, phần tiền rút thường chỉ được hưởng lãi suất không kỳ hạn, hiện phổ biến từ 0,1% đến 0,5%/năm tùy ngân hàng.
Một ví dụ cụ thể. Người gửi 500 triệu đồng kỳ hạn 12 tháng ở mức 7%/năm, nếu giữ đủ hạn sẽ nhận 35 triệu đồng tiền lãi. Nếu buộc phải rút toàn bộ ở tháng thứ 9, tiền lãi tính theo lãi suất không kỳ hạn 0,5%/năm chỉ còn khoảng 1,875 triệu đồng, thay vì khoảng 26,25 triệu đồng nếu được hưởng nguyên lãi suất cho 9 tháng. Phần mất đi khoảng 24,4 triệu đồng, tương đương gần 70% khoản lãi lẽ ra được hưởng.
Tính theo lãi suất thực, khoản tiền đó không chỉ hòa vốn mà còn mất sức mua khoảng 4 điểm phần trăm trong 9 tháng.
Cách phòng vệ thực tế: hỏi rõ ngân hàng có cho phép rút một phần trước hạn hay không. Ở cơ chế này, chỉ phần tiền rút ra chịu lãi suất không kỳ hạn, phần còn lại vẫn giữ nguyên lãi suất ban đầu đến khi đáo hạn. Điều khoản này khác nhau giữa từng ngân hàng và từng sản phẩm, đặc biệt là với chứng chỉ tiền gửi.
Theo số liệu tháng 6/2026 của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất cho vay VND bình quân của nhóm ngân hàng thương mại nhà nước và nhóm cổ phần ở mức 8,1% đến 10,5%/năm, tính chung cho khoản vay mới lẫn dư nợ hiện hữu. Với các khoản vay bằng USD, lãi suất cho vay bình quân dao động 4,1% đến 5,4%/năm.
Cơ chế truyền dẫn từ đầu vào sang đầu ra không phức tạp. Ngân hàng sống bằng chênh lệch giữa lãi suất cho vay và chi phí huy động, gọi là biên lãi ròng. Khi chi phí huy động tăng mà lãi suất cho vay không tăng tương ứng, biên lãi ròng bị bào mòn, lợi nhuận giảm, khả năng trích lập dự phòng cho nợ xấu cũng giảm theo. Áp lực này đang hiện hữu rõ với toàn ngành trong nửa đầu năm 2026.
Vì vậy, một mặt bằng huy động cao kéo dài gần như chắc chắn sẽ được chuyển dần sang lãi suất cho vay, chỉ khác nhau ở độ trễ. Với dư nợ cũ, độ trễ này chính là kỳ điều chỉnh lãi suất thả nổi, thường 3 tháng hoặc 6 tháng một lần.
Lãi suất cho vay ngắn hạn với các lĩnh vực ưu tiên như xuất khẩu, nông nghiệp nông thôn, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao đang ở khoảng 3,9%/năm, thấp hơn trần quy định 4%/năm.
Chính sách phân bổ này đang phát huy tác dụng khá rõ. Đến cuối tháng 5/2026, khoảng 77% tổng dư nợ nền kinh tế tập trung vào sản xuất kinh doanh, trong đó nông nghiệp nông thôn chiếm 22,09% và doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm 19,84%. Tín dụng xuất khẩu tăng 20,53%, tín dụng cho doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao tăng 26,36%.
Hệ quả là thị trường tín dụng bị chia làm hai tốc độ. Doanh nghiệp đúng ngành, đúng hồ sơ, đúng thời hạn vay ngắn hạn được vay với chi phí thực gần như bằng không. Doanh nghiệp ngoài nhóm này, đặc biệt là vay trung dài hạn, phải chịu mức 9% đến 10,5%/năm, tương đương chi phí vốn thực trên 5 điểm phần trăm. Với biên lợi nhuận phổ biến của nhiều ngành sản xuất và thương mại nội địa, đây là gánh nặng thật.
Một khoản vay mua nhà 20 năm thường chỉ được hưởng ưu đãi trong 6 đến 36 tháng đầu. Phần thời gian còn lại, chiếm phần lớn vòng đời khoản vay, áp dụng công thức cơ chế lãi suất thả nổi điều chỉnh định kỳ bằng lãi suất tham chiếu cộng biên độ cố định.
Lãi suất tham chiếu thường là lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 12 hoặc 13 tháng của chính ngân hàng đó hoặc bình quân nhóm quốc doanh. Biên độ phổ biến trong khoảng 3 đến 4 điểm phần trăm. Đây là chỗ toàn bộ rủi ro lãi suất được chuyển sang người vay.
Phép tính rất dễ kiểm chứng. Nếu tham chiếu là lãi suất 12 tháng của nhóm Big4 hiện ở 5,9%/năm, cộng biên độ 3,5 điểm phần trăm, lãi suất thả nổi rơi vào khoảng 9,4%/năm. Nếu ngân hàng dùng biểu lãi suất 12 tháng của chính mình ở mức 6,6%/năm, con số này lên khoảng 10,1%/năm. Chênh lệch chỉ 0,7 điểm phần trăm nhưng trên khoản vay 2 tỷ đồng đã tương đương khoảng 14 triệu đồng tiền lãi mỗi năm.
Ba câu hỏi người vay nên yêu cầu ghi rõ trong hợp đồng, không chấp nhận trả lời miệng: lãi suất tham chiếu là chỉ số cụ thể nào và được công bố ở đâu, biên độ cố định là bao nhiêu và có bị điều chỉnh không, chu kỳ điều chỉnh lãi suất là mấy tháng. Bên cạnh đó là phí trả nợ trước hạn và điều khoản hoàn trả ưu đãi nếu tất toán sớm, hai khoản chi phí thường bị bỏ qua lúc ký.

Đây là nguyên nhân gốc. Đến ngày 26/6/2026, tín dụng toàn nền kinh tế tăng 7,41% so với cuối năm 2025 và tăng 18,1% so với cùng kỳ, trong khi huy động vốn của các tổ chức tín dụng chỉ tăng 5,02%, thấp hơn mức 6,11% của cùng thời điểm năm trước.
Khoảng cách 2,39 điểm phần trăm này không phải hiện tượng nhất thời. Nó kéo dài từ đầu năm và có xu hướng nới rộng khi nền kinh tế tăng trưởng nhanh. GDP quý II/2026 tăng 8,39%, sáu tháng đầu năm tăng khoảng 8,18%, trong khi mục tiêu cả năm được đặt từ 10% trở lên. Một nền kinh tế tăng trưởng ở tốc độ đó luôn hút vốn nhanh hơn khả năng tạo ra tiền gửi.
Định hướng tăng trưởng tín dụng cả năm 2026 khoảng 15%, nghĩa là phần lớn dư địa giải ngân vẫn còn ở phía trước. Nhu cầu vốn nửa cuối năm do đó sẽ tiếp tục gây sức ép lên lãi suất huy động.
Cuộc đua không diễn ra ở kỳ hạn ngắn, nơi trần điều hành đã chặn, mà ở kỳ hạn từ 6 tháng trở lên. Bằng chứng là các chương trình cộng biên độ, lãi suất bậc thang theo quy mô tiền gửi và các đợt phát hành chứng chỉ tiền gửi liên tiếp trong tháng 7.
Thị trường còn ghi nhận một tầng lãi suất thứ ba ít được nói tới, đó là lãi suất thỏa thuận. Nhiều nhà băng nhỏ sẵn sàng đàm phán 8% đến 9%/năm cho khoản gửi từ vài trăm triệu đồng. Số liệu từ giới phân tích cho thấy mức lãi suất huy động tiền gửi thực trả bình quân kỳ hạn 12 tháng của nhóm ngân hàng lớn đã lên khoảng 8,3%/năm và nhóm tiếp theo khoảng 8,52%/năm, cao hơn nhiều so với biểu niêm yết công khai. Chênh lệch giữa lãi suất niêm yết và lãi suất thực trả chính là thước đo mức độ căng thẳng của cuộc cạnh tranh vốn.
sức ép điều chỉnh tỷ giá hối đoái trung tâm đã tăng 10 tuần liên tiếp và tiến sát vùng đỉnh lịch sử. Ngày 22/7, tỷ giá trung tâm ở mức 25.260 đồng, trong khi Vietcombank niêm yết 26.100 đến 26.510 đồng.
Trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất USD kỳ hạn qua đêm quanh 3,62%/năm, nghĩa là chênh lệch với lãi suất VND qua đêm 4,16%/năm chỉ khoảng 0,54 điểm phần trăm. Đây là biên rất hẹp. Nếu lãi suất VND giảm nhanh, chênh lệch có thể đảo chiều, kích hoạt áp lực rút vốn và làm căng thêm tỷ giá.
Bối cảnh quốc tế cũng không ủng hộ việc nới lỏng. Tại cuộc họp ngày 16 và 17/6/2026, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) giữ nguyên lãi suất trong biên độ 3,5% đến 3,75%, đồng thời nâng dự báo lạm phát năm 2026 lên 3,6% và phát tín hiệu cứng rắn hơn. Thị trường thậm chí đang định giá xác suất đáng kể cho khả năng Fed tăng lãi suất trong tháng 9. Trong môi trường đó, dư địa để Ngân hàng Nhà nước giảm lãi suất điều hành gần như không có.
Đây là điểm dễ bị đọc sai nhất. Tuần 13 đến 17/7, Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 19.921 tỷ đồng qua thị trường mở, nối tiếp mức hút ròng hơn 31.000 tỷ đồng tuần trước đó. Khối lượng lưu hành trên kênh OMO giảm còn khoảng 187.898 tỷ đồng, thấp nhất kể từ tháng 10/2025.
Nếu chỉ nhìn lãi suất qua đêm 4,16%/năm, dễ kết luận hệ thống đang dư tiền. Nhưng đường cong kỳ hạn kể một câu chuyện khác: 1 tuần 4,74%, 2 tuần 6,02%, 1 tháng 7,17% và 3 tháng 8,11%/năm. Độ dốc gần 4 điểm phần trăm từ qua đêm lên 3 tháng cho thấy các ngân hàng sẵn sàng cho vay lẫn nhau qua đêm nhưng vẫn tính giá rất cao cho vốn có kỳ hạn.
Nói cách khác, hệ thống có thanh khoản tức thời nhưng thiếu nguồn vốn ổn định. Đây chính là lý do lãi suất huy động kỳ hạn dài không giảm theo lãi suất qua đêm.
Biên lãi ròng toàn ngành đã chịu áp lực suốt từ năm 2025 khi chi phí huy động tăng nhanh hơn lãi suất cho vay. Ngân hàng vừa phải giữ tiền gửi bằng lãi suất hấp dẫn, vừa chịu định hướng ổn định lãi suất cho vay để hỗ trợ tăng trưởng, vừa phải trích lập đủ dự phòng rủi ro.
Ba mục tiêu này mâu thuẫn nhau. Kết quả thực tế là ngân hàng chọn cách giữ lãi suất huy động ở mặt bằng cao nhưng chuyển sang cạnh tranh bằng điều kiện, tức là ưu đãi có chọn lọc theo nhóm khách hàng và quy mô tiền gửi, thay vì nâng đồng loạt biểu niêm yết. Đó là lý do thị trường xuất hiện ngày càng nhiều mức lãi suất 8% và 9% nhưng chỉ dành cho một nhóm nhỏ.
Không có kỳ hạn tốt nhất cho mọi người. Chỉ có kỳ hạn phù hợp với dòng tiền của từng người. Dưới đây là bốn nhóm nhu cầu phổ biến.
Cần dùng tiền trong 1 đến 3 tháng. Chọn kỳ hạn 1 đến 3 tháng và chấp nhận lãi suất thực gần bằng 0. Mục tiêu ở đây là bảo toàn vốn và giữ khả năng rút, không phải sinh lời. Điều quan trọng là tuyệt đối không để tiền ở trạng thái không kỳ hạn, vì mức 0,1% đến 0,5%/năm khiến sức mua giảm hơn 4 điểm phần trăm mỗi năm. Nhiều ngân hàng đang niêm yết đúng trần 4,75%/năm cho kỳ hạn 3 đến 5 tháng, nên chỉ cần gửi có kỳ hạn là đã thu hẹp phần lớn khoảng cách này.
Có tiền nhàn rỗi 6 đến 12 tháng. Đây là vùng tối ưu nhất về tương quan lợi suất, thanh khoản và rủi ro tái đầu tư ở thời điểm hiện tại. Lãi suất thực rơi vào khoảng 1,72 đến 3,22 điểm phần trăm. Kỹ thuật chia nhỏ phương án quản lý dòng tiền gửi thành nhiều sổ có ngày đáo hạn lệch nhau, ví dụ ba sổ 6 tháng cách nhau hai tháng. Cách này cho phép luôn có một sổ sắp đáo hạn để dùng khi cần, tránh phải phá vỡ toàn bộ khoản gửi.
Muốn khóa lãi suất dài hạn. Kỳ hạn từ 24 tháng đang cho lãi suất thực cao nhất, khoảng 2,72 đến 3,42 điểm phần trăm, với các mức đáng chú ý như MB 7,0%/năm và Sacombank online 6,9%/năm. Lựa chọn này hợp lý nếu người gửi tin rằng mặt bằng lãi suất đã tiệm cận vùng đỉnh. Rủi ro đi kèm là nếu lãi suất tiếp tục tăng, khoản tiền bị khóa ở mức cũ. Cũng cần lưu ý một nghịch lý trong biểu của chính các ngân hàng lớn: Vietcombank trả 6,0%/năm ở 24 tháng nhưng chỉ 5,3%/năm ở 36 đến 60 tháng, nên gửi càng dài không tự động đồng nghĩa lãi càng cao.
Chấp nhận chứng chỉ tiền gửi. Sản phẩm này trả cao hơn sổ tiết kiệm cùng kỳ hạn, hiện tới 8,2%/năm ở BVBank và 7,8%/năm ở VPBank. Đổi lại là tính linh hoạt thấp hơn đáng kể, đặc biệt ở khả năng tất toán trước hạn. Chỉ nên chọn khi chắc chắn không cần dùng đến khoản tiền đó trong suốt kỳ hạn, và phải đọc kỹ điều khoản về chuyển nhượng, cầm cố cũng như phạm vi bảo hiểm tiền gửi áp dụng cho sản phẩm cụ thể.
Thứ nhất, luôn quy đổi về lãi suất thực nhận trên số tiền cụ thể của mình, không so sánh bằng con số phần trăm trên tiêu đề. Một mức 9,2%/năm chỉ áp dụng cho khoản gửi đầu tiên trên ứng dụng sẽ cho ra số tiền lãi khác hẳn kỳ vọng nếu khoản gửi của bạn là 500 triệu đồng đã có tài khoản từ trước.
Thứ hai, kiểm tra thời hạn áp dụng và hạn mức chương trình. Chứng chỉ tiền gửi 8,2%/năm của BVBank sẽ dừng khi đạt hạn mức phát hành 1.000 tỷ đồng, có thể sớm hơn nhiều so với mốc 31/12/2026 ghi trên thông báo.
Thứ ba, tính đến hạn mức bảo hiểm tiền gửi 350 triệu đồng cho mỗi người tại mỗi tổ chức. Với khoản tiền lớn, việc chia nhỏ qua nhiều ngân hàng vừa tăng phạm vi được bảo hiểm vừa giảm rủi ro tập trung, dù có thể phải hy sinh một phần lãi suất do không đạt ngưỡng ưu đãi theo quy mô.
Thứ tư, đọc kỹ điều khoản rút trước hạn trước khi ký, không phải sau khi cần tiền. Đây là điều khoản quyết định lợi suất thực trong phần lớn các trường hợp phát sinh ngoài dự tính.
Lãi suất ngân hàng nào cao nhất hiện nay?
Ngày 22/7/2026, HDBank dẫn đầu với 7,6%/năm cho kỳ hạn 13 tháng tại quầy, nhưng chỉ áp dụng khi đủ điều kiện về quy mô tiền gửi. Mức phổ thông cao nhất thuộc về MB với 7,0%/năm từ kỳ hạn 24 tháng, không đòi hỏi số dư đặc biệt. Nhóm Big4 cao nhất 6,0%/năm.
Gửi tiết kiệm online có cao hơn tại quầy không?
Thường là có, do chi phí vận hành thấp hơn. Sacombank trả 6,4%/năm online so với 6,2%/năm tại quầy ở kỳ hạn 6 tháng, và 6,9% so với 6,7% ở kỳ hạn 24 tháng. Tuy nhiên không phải lúc nào cũng vậy. Vietcombank áp dụng cùng một biểu cho cả hai kênh, còn HDBank lại trả cao nhất ở kênh tại quầy.
Lãi suất 9,2%/năm có áp dụng cho mọi khách hàng không?
Không. Mức 9,2%/năm tại Cake by VPBank gồm lãi suất niêm yết 7,4%/năm cộng ưu đãi 1,8 điểm phần trăm, chỉ dành cho khách hàng gửi tiền lần đầu trên ứng dụng, với sản phẩm và kỳ hạn được chỉ định. Khi khoản gửi đáo hạn và tái tục, lãi suất trở về mức niêm yết thông thường.
Chứng chỉ tiền gửi khác gì sổ tiết kiệm?
Chứng chỉ tiền gửi là giấy tờ có giá do ngân hàng phát hành theo đợt và theo hạn mức, lãi suất cố định và thường cao hơn sổ tiết kiệm cùng kỳ hạn. Đổi lại, khả năng tất toán trước hạn bị hạn chế hoặc không được phép, tùy điều khoản phát hành. Người mua cần đọc kỹ quy định chuyển nhượng và cầm cố.
Lãi suất ngân hàng có thể giảm trong thời gian tới không?
Khả năng giảm sâu trên diện rộng là thấp trong nửa cuối năm 2026. Tín dụng vẫn tăng nhanh hơn huy động, chênh lệch lãi suất VND với USD đang hẹp, tỷ giá chịu sức ép và Fed phát tín hiệu duy trì lãi suất cao. Một số tổ chức phân tích cho rằng mặt bằng có thể đã tiệm cận vùng đỉnh, nhưng chưa có cơ sở cho một chu kỳ giảm rõ rệt.
Lãi suất cao nhất gần như không bao giờ là lựa chọn tốt nhất, bởi mọi mức lãi suất vượt trội trên thị trường hiện nay đều gắn với một điều kiện: gửi lần đầu, gửi đúng kênh, gửi đủ lớn, hoặc gửi vào sản phẩm không rút được trước hạn. Người gửi tiền nên so sánh theo ba lớp thay vì một con số, gồm lãi suất niêm yết, lãi suất thực nhận sau khi trừ lạm phát 4,38%, và chi phí cơ hội nếu buộc phải rút trước hạn. Với mặt bằng hiện tại, kỳ hạn dưới 6 tháng chỉ nên dùng để giữ thanh khoản, còn vùng 6 tháng trở lên mới thực sự tạo ra lãi suất thực dương đáng kể.
Với người vay, biến số quan trọng nhất không nằm ở mức ưu đãi 6 đến 24 tháng đầu mà ở công thức thả nổi phía sau, gồm lãi suất tham chiếu, biên độ cố định và chu kỳ điều chỉnh. Khi lãi suất huy động 12 tháng của thị trường neo ở vùng 5,9% đến 7%/năm, lãi suất vay thả nổi sẽ tự động dịch lên tương ứng. Rộng hơn, diễn biến lãi suất ngân hàng nửa cuối năm 2026 sẽ được quyết định bởi bốn biến số cùng lúc: tốc độ tăng tín dụng so với huy động, sức ép tỷ giá và chênh lệch lãi suất VND với USD, quỹ đạo lạm phát, và định hướng điều hành của Ngân hàng Nhà nước. Chừng nào khoảng cách giữa tín dụng và huy động chưa thu hẹp, kỳ vọng về một đợt giảm lãi suất diện rộng vẫn nên được đặt ở mức thận trọng.
Nguồn dữ liệu: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (diễn biến lãi suất các tổ chức tín dụng tháng 6/2026, báo cáo thị trường liên ngân hàng, số liệu tín dụng đến 26 và 29/6/2026, Thông tư 05/2026/TT-NHNN); Cục Thống kê (CPI và GDP quý II, sáu tháng đầu năm 2026); biểu lãi suất công bố ngày 22/7/2026 của Agribank, Vietcombank, BIDV, VietinBank, Sacombank, MB, Techcombank, ACB, VPBank, HDBank; thông báo phát hành chứng chỉ tiền gửi của BVBank, VPBank, MB; tài liệu cuộc họp FOMC tháng 6/2026 của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ. Lãi suất có thể thay đổi theo từng thời điểm, người đọc nên đối chiếu trực tiếp với ngân hàng trước khi giao dịch.