Đăng vào: 2026-08-18
Cập nhật vào: 2026-08-18
Tỷ giá USD/VND ngày 18/8/2026 ghi nhận một cấu trúc đáng chú ý: tỷ giá trung tâm giảm 6 đồng xuống 25.580 đồng/USD, trong khi Vietcombank cập nhật lúc 10:24 với giá mua tiền mặt 25.990 đồng, mua chuyển khoản 26.020 đồng và bán ra 26.400 đồng/USD. Với trần giao dịch 26.859 đồng, giá bán Vietcombank vẫn thấp hơn giới hạn trên 459 đồng, tương đương khoảng 1,71%.
Điểm quan trọng hơn biến động một ngày nằm ở khoảng cách giữa các lớp tỷ giá. Từ đầu năm, tỷ giá trung tâm đã tăng khoảng 1,83%, nhưng giá bán Vietcombank chỉ cao hơn khoảng 0,09% so với ngày 2/1. Chênh lệch giữa giá bán Vietcombank và tỷ giá trung tâm vì thế co từ 1.256 đồng xuống 820 đồng, giảm gần 35%.

Tỷ giá trung tâm ở 25.580 đồng/USD, giảm 6 đồng so với phiên gần nhất. Biên độ ±5% đưa trần tỷ giá lên 26.859 đồng và sàn xuống 24.301 đồng/USD.
Vietcombank bán USD ở 26.400 đồng lúc 10:24, thấp hơn 459 đồng so với trần. Giá này cũng chỉ cao hơn 23 đồng so với mức 26.377 đồng ngày 2/1, dù tỷ giá trung tâm đã tăng 459 đồng trong cùng khoảng thời gian.
Các ngân hàng không hoàn toàn đi cùng hướng. Trong mốc khảo sát buổi sáng, BIDV bán 26.410 đồng, ACB 26.380 đồng và Techcombank 26.483 đồng. Riêng Vietcombank sau đó điều chỉnh về 26.400 đồng tại lần cập nhật chính thức lúc 10:24.
Giá USD tự do có độ phân tán lớn giữa các điểm khảo sát. Các báo giá công khai trong cùng buổi sáng xuất hiện cả vùng 25.750 đến 25.800 đồng lẫn 26.080 đến 26.190 đồng/USD. Chênh lệch tới 390 đồng ở giá bán khiến một báo giá đơn lẻ không đủ đại diện cho toàn bộ thị trường ngoài ngân hàng.
DXY đang quanh 99,6 điểm, nhưng xác suất thị trường định giá Fed tăng 25 điểm cơ bản tại cuộc họp tháng 9 chỉ khoảng 36,3%, thấp hơn 49,1% một tuần trước. Điều này làm suy yếu một phần động lực tăng lãi suất ngắn hạn của đồng USD.
Tuy nhiên, lợi suất dài hạn của Mỹ vẫn cao. Lợi suất 10 năm dao động khoảng 4,74% và 30 năm quanh 5,33% trong phiên 18/8, cho thấy áp lực từ lạm phát, nguồn cung trái phiếu và phần bù kỳ hạn chưa biến mất.
Bảng dưới đây ưu tiên dữ liệu chính thức mới nhất có thể truy xuất từ Vietcombank và Agribank. BIDV, Techcombank và ACB sử dụng cùng một mốc khảo sát buổi sáng để tránh ghép các mức giá ở những thời điểm khác nhau.
| Ngân hàng | Mua vào | Bán ra | Thay đổi đáng chú ý | Giờ cập nhật |
|---|---|---|---|---|
| Vietcombank | 25.990 tiền mặt, 26.020 chuyển khoản | 26.400 | Giá bán về mức cuối 17/8 | 10:24 |
| BIDV | 26.030 | 26.410 | Đi ngang so với cuối 17/8 | Khoảng 08:57 |
| Techcombank | 25.942 | 26.483 | Giá bán tăng 5 đồng | Khoảng 08:57 |
| Agribank | 26.000 tiền mặt, 26.030 chuyển khoản | 26.410 | Không so sánh do khác mốc dữ liệu | 08:30 |
| ACB | 25.990 | 26.380 | Đi ngang tại mốc khảo sát | Khoảng 08:57 |
Trong nhóm được khảo sát lúc 08:57, Techcombank có giá bán cao nhất 26.483 đồng, còn ACB thấp nhất ở 26.380 đồng. Khoảng cách giữa hai mức bán là 103 đồng/USD. Tuy nhiên, đây là so sánh tại cùng mốc buổi sáng, không nên xem là bảng xếp hạng giá ngân hàng tại 14:20.
Chênh lệch mua bán cũng cho thấy trạng thái định giá khác nhau. Vietcombank có biên 410 đồng nếu dùng giá mua tiền mặt và 380 đồng nếu dùng mua chuyển khoản. Techcombank có biên khoảng 541 đồng tại mốc khảo sát, rộng hơn đáng kể. Biên mua bán lớn không tự động đồng nghĩa USD thiếu hụt, nhưng phản ánh chi phí định giá và quản trị trạng thái ngoại tệ khác nhau giữa các ngân hàng.
Tỷ giá trung tâm 25.580 đồng hiện cao hơn 459 đồng, tương đương 1,83%, so với mức 25.121 đồng ngày 2/1. Trong khi đó, giá bán Vietcombank tăng từ 26.377 lên 26.400 đồng, chỉ khoảng 0,09%.
Sự khác biệt này làm mức cộng thêm của giá bán Vietcombank so với tỷ giá trung tâm giảm từ 1.256 đồng đầu năm xuống 820 đồng hiện nay, tức co khoảng 34,7%. Đây là một tín hiệu có giá trị hơn việc chỉ nhìn giá USD tăng hay giảm từng ngày: tỷ giá tham chiếu đã tiến gần hơn đáng kể tới vùng giá thương mại.
Ở thị trường tự do, cần thận trọng hơn. Hai nhóm khảo sát công khai trong sáng 18/8 chênh nhau tới 390 đồng ở chiều bán. Thị trường này không có một bảng giá tập trung tương đương hệ thống ngân hàng, vì vậy địa điểm, thời gian và đối tượng giao dịch có thể tạo khác biệt đáng kể.
Do đó, việc lấy một mức USD tự do rồi kết luận rằng thị trường đang thiếu hoặc dư USD sẽ dễ dẫn tới sai lệch. Độ rộng giữa nhiều báo giá tự do, chênh lệch với ngân hàng và hướng dịch chuyển qua nhiều phiên mới là bộ tín hiệu có ý nghĩa hơn.

Fed đang giữ lãi suất mục tiêu ở 3,50% đến 3,75% sau cuộc họp ngày 29/7. Định giá thị trường vào chiều 18/8 cho thấy xác suất tăng thêm 25 điểm cơ bản tại cuộc họp tháng 9 ở khoảng 36,3%, giảm rõ so với 49,1% một tuần trước.
Sự thay đổi này có cơ sở từ dữ liệu Mỹ. CPI tháng 7 tăng 3,4% so với cùng kỳ, thấp hơn mức 3,5% tháng 6, còn CPI lõi giảm xuống 2,5%. Dữ liệu bảng lương phi nông nghiệp Non Farm tháng 7 giảm 23.000 việc làm; số liệu tháng 5 và 6 cũng bị điều chỉnh giảm tổng cộng 103.000.
Đó là tổ hợp dữ liệu làm giảm nhu cầu định giá một đợt tăng lãi suất ngay lập tức.
Câu chuyện không hoàn toàn thuận lợi cho các đồng tiền ngoài USD khi lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm ngày 17/8 đóng cửa ở 4,72% và kỳ hạn 30 năm ở mức 5,31%. Trong phiên 18/8, hai mức này tiếp tục dao động quanh 4,74% và 5,33%.
Điều đó tạo ra một sự phân kỳ: thị trường bớt đặt cược Fed tăng lãi suất trong ngắn hạn nhưng vẫn yêu cầu mức lợi suất cao để nắm giữ nợ công dài hạn.
DXY vì thế chỉ quanh 99,6 điểm chứ chưa suy yếu mạnh. So với khoảng 98,28 điểm vào sáng 2/1, chỉ số này vẫn cao hơn xấp xỉ 1,3%.
Brent giao dịch trên $91/thùng trong phiên 18/8. Mức dầu cao duy trì hai kênh tác động tới tỷ giá: nó có thể giữ kỳ vọng lạm phát Mỹ ở mức cao hơn, qua đó hỗ trợ lợi suất; đồng thời làm tăng rủi ro lạm phát nhập khẩu đối với các nền kinh tế mua năng lượng từ bên ngoài.
Vì vậy, DXY giảm trong một vài phiên không đồng nghĩa USD/VND phải giảm tương ứng. Xét trên tổng thể các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái, tỷ giá tại Việt Nam còn phụ thuộc vào cung cầu ngoại tệ trong nước, thanh khoản VND, nhu cầu thanh toán thương mại và cách tỷ giá trung tâm được điều chỉnh.
Kịch bản USD/VND chịu áp lực tăng: DXY quay lại tăng, lợi suất Mỹ duy trì cao hoặc thị trường nâng lại xác suất Fed tăng lãi suất. Một cú tăng mới của dầu cũng có thể làm kỳ vọng lạm phát cứng hơn và hỗ trợ đồng USD.
Kịch bản USD/VND hạ nhiệt: dữ liệu lao động và lạm phát Mỹ tiếp tục mềm đi, xác suất tăng lãi suất tháng 9 giảm thêm, trong khi cung ngoại tệ trong nước đủ hấp thụ nhu cầu thanh toán. Khoảng cách của giá ngân hàng với trần tỷ giá khi đó có thể tiếp tục được duy trì.
Hai dữ liệu lớn cần theo dõi là báo cáo việc làm Mỹ tháng 8, dự kiến công bố ngày 4/9, và CPI tháng 8 vào 11/9. Ủy ban Thị trường Mở Liên bang FOMC sau đó họp ngày 15 đến 16/9. Những mốc này có khả năng thay đổi đáng kể định giá lãi suất trước kỳ họp Fed.
Ngày 18/8/2026, tỷ giá trung tâm là 25.580 đồng/USD. Vietcombank cập nhật lúc 10:24 với giá mua tiền mặt 25.990 đồng, mua chuyển khoản 26.020 đồng và bán 26.400 đồng/USD. Giá thực tế khác nhau theo ngân hàng và hình thức giao dịch.
Trong nhóm dữ liệu buổi sáng được so sánh cùng mốc, BIDV niêm yết mua USD ở 26.030 đồng, ngang mức mua chuyển khoản của Agribank và cao hơn giá mua tiền mặt tại Vietcombank. Tuy nhiên, bảng giá thay đổi trong ngày nên cần kiểm tra lại tại thời điểm giao dịch.
Tỷ giá trung tâm ngày 18/8 là 25.580 đồng/USD, giảm 6 đồng so với phiên trước. Với biên độ ±5%, các ngân hàng được phép giao dịch trong vùng từ 24.301 đến 26.859 đồng/USD.
Giá ngân hàng hình thành trong hệ thống được quản lý và chịu giới hạn từ biên độ tỷ giá, đồng thời phản ánh thanh khoản, trạng thái ngoại tệ và nhu cầu khách hàng. Giá tự do phân tán hơn theo địa điểm, thời điểm và đối tượng giao dịch, nên các khảo sát cùng ngày có thể chênh lệch đáng kể.
Tỷ giá USD/VND ngày 18/8 không phát đi một tín hiệu tăng hoặc giảm đơn nhất. Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ còn 25.580 đồng, Vietcombank bán 26.400 đồng và vẫn cách trần 459 đồng. Quan trọng hơn, chênh lệch giữa giá bán Vietcombank và tỷ giá trung tâm đã co gần 35% so với đầu năm.
Ở bên ngoài Việt Nam, DXY quanh 99,6 điểm và kỳ vọng Fed tăng lãi suất tháng 9 đã hạ nhiệt, nhưng lợi suất dài hạn cùng giá dầu trên $91/thùng vẫn giữ lại rủi ro đối với đồng USD. Diễn biến tiếp theo của USD/VND vì vậy sẽ phụ thuộc vào sự kết hợp giữa chính sách Fed, lợi suất Mỹ và điều kiện cung cầu ngoại tệ trong nước, thay vì một biến số quốc tế riêng lẻ.