Đăng vào: 2026-07-28
Cập nhật vào: 2026-07-28
Ngân hàng TMCP Bảo Việt trở thành nhà băng đầu tiên hạ lãi suất huy động trong tháng 7/2026, với mức giảm 0,2 điểm phần trăm ở toàn bộ kỳ hạn từ 6 đến 36 tháng, đưa kỳ hạn 6-11 tháng về 6,4%/năm và kỳ hạn 12-36 tháng về 6,5%/năm, trong khi các kỳ hạn dưới 6 tháng giữ nguyên 4,75%/năm. Cùng ngày, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước công bố ở 25.306 đồng, tăng 13 đồng và vượt đỉnh lịch sử 25.298 đồng lập ngày 25/8/2025, ngay trước cuộc họp chính sách của Fed.

Hai diễn biến này đi ngược chiều nhau và đó chính là điểm cần chú ý. Một ngân hàng hạ lãi suất niêm yết không có nghĩa mặt bằng chi phí vốn đã hạ nhiệt: lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn 1 tháng vẫn tăng lên 7,3%/năm, chứng chỉ tiền gửi được chào tới 9%/năm, còn lãi suất cho vay bình quân đã lên 10,5%/năm. Với người gửi tiền, khoảng cách giữa kỳ hạn ngắn và kỳ hạn dài đang quyết định lãi suất thực. Với người vay, phần chi phí vốn đắt đỏ này sẽ chảy vào kỳ điều chỉnh lãi suất thả nổi tiếp theo.
BaoViet Bank giảm 0,2 điểm phần trăm kỳ hạn 6-36 tháng, áp dụng cho tiết kiệm trực tuyến. Đây là ngân hàng đầu tiên giảm trong tháng 7, nhưng là điều chỉnh đơn lẻ, không phải xu hướng toàn hệ thống.
Kỳ hạn 12 tháng cao nhất bảng niêm yết trực tuyến thuộc về ACB với 7,8%/năm; thấp nhất là SCB 3,7%/năm. Chênh lệch 4,1 điểm phần trăm cho cùng một kỳ hạn cho thấy thị trường đang phân hóa theo năng lực thanh khoản, không theo một mặt bằng chung.
Lãi suất liên ngân hàng đang dốc bất thường. Chốt phiên 24/7, qua đêm chỉ 2,5%/năm, mức thấp nhất từ đầu năm, nhưng kỳ hạn 1 tháng lại tăng lên 7,3%/năm, kéo chênh lệch giữa hai kỳ hạn lên 4,8 điểm phần trăm. Tiền rất ngắn thì thừa, tiền có kỳ hạn thì đắt.
Lãi suất cho vay bình quân tháng 6 tăng 0,4 điểm phần trăm lên 10,5%/năm, mức điều chỉnh mạnh nhất trong một năm. Đây là con số quyết định dòng tiền hàng tháng của người vay, không phải lãi suất điều hành.
Chứng chỉ tiền gửi và trái phiếu ngân hàng đang trả cao hơn tiền gửi. VPBank chào chứng chỉ tiền gửi tới 9%/năm cho kỳ hạn 184-209 ngày với khoản từ 100 triệu đồng; Vietbank phát hành trái phiếu lãi suất 9,7%. Ngân hàng phải trả giá cao hơn ở kênh ngoài tiền gửi dân cư.
Fed họp ngày 28-29/7 với lãi suất hiện ở 3,50-3,75%. Khảo sát Reuters cho thấy toàn bộ 104 nhà kinh tế dự báo giữ nguyên, trong khi công cụ FedWatch định giá xác suất tăng 0,25 điểm phần trăm khoảng 33%. Rủi ro nghiêng về phía "diều hâu" hơn là nới lỏng.
| Ngân hàng | 1 tháng | 3 tháng | 6 tháng | 9 tháng | 12 tháng | 18 tháng | Nhận định nhanh |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Agribank, BIDV, Vietcombank, VietinBank | 4,75 | 4,75 | 6,6 | 6,6 | 6,8 | 6,8 | Nhóm Big4 đồng nhất, tham chiếu mặt bằng |
| ACB | 4,75 | 4,75 | 7,6 | 7,7 | 7,8 | - | Cao nhất kỳ hạn 6-12 tháng |
| Bac A Bank | 4,75 | 4,75 | 7,05 | 7,05 | 7,1 | 6,95 | Đường cong đảo nhẹ sau 12 tháng |
| MBV | 4,6 | 4,75 | 7 | 7 | 7 | 7 | Phẳng từ 6 tháng trở đi |
| VCBNeo | 4,75 | 4,75 | 7 | 7 | 7 | 7 | Nhóm trả cao để giữ vốn |
| Saigonbank | 4,75 | 4,75 | 6,9 | 6,7 | 7,2 | 7 | Ưu tiên rõ kỳ hạn 12 tháng |
| PGBank | 4,75 | 4,75 | 6,9 | 6,9 | 7 | 6,8 | Nhóm cạnh tranh trung hạn |
| LPBank | 4,6 | 4,65 | 6,8 | 6,8 | 6,9 | 6,95 | Trên Big4 khoảng 0,1-0,2 điểm |
| BaoViet Bank | 4,75 | 4,75 | 6,4 | 6,4 | 6,5 | 6,5 | Vừa giảm 0,2 điểm hôm nay |
| VIB | 4,35 | 4,45 | 5,7 | 5,8 | 7 | 5,9 | Dồn ưu đãi vào đúng mốc 12 tháng |
| Techcombank | 4,35 | 4,65 | 6,55 | 6,55 | 6,75 | 5,85 | Kỳ hạn 18 tháng thấp hơn 12 tháng |
| Eximbank | 4,6 | 4,7 | 5,4 | 5,4 | 5,3 | 5,3 | Không cạnh tranh bằng giá |
| GPBank | 3,6 | 3,7 | 5,25 | 5,35 | 5,55 | 5,55 | Nhóm thấp |
| SCB | 1,6 | 1,9 | 2,9 | 2,9 | 3,7 | 3,9 | Thấp nhất thị trường |
Nguồn: biểu lãi suất huy động trực tuyến niêm yết ngày 28/7/2026.
Kỳ hạn hấp dẫn nhất hiện nay là 6-12 tháng, không phải kỳ hạn dài nhất. Số liệu Ngân hàng Nhà nước cho thấy lãi suất huy động bình quân tháng 6/2026 ở mức 6,1-7,6%/năm cho kỳ hạn 6-12 tháng, nhưng chỉ 5,9-7,3%/năm cho kỳ hạn trên 12 đến 24 tháng. Nói cách khác, gửi dài hơn chưa chắc được trả cao hơn, vì ngân hàng đang cần vốn ở vùng kỳ hạn đủ để đáp ứng chỉ tiêu an toàn chứ không cần vốn dài vô hạn.
Nhóm phải trả lãi cao hơn là các ngân hàng cổ phần quy mô vừa, nơi tỷ lệ dư nợ trên tiền gửi căng nhất. Đây cũng là nhóm đẩy mạnh phát hành chứng chỉ tiền gửi và trái phiếu, với lãi suất chứng chỉ tiền gửi kỳ hạn 4-6 tháng lên tới 8%/năm và 9%/năm cho kỳ hạn khoảng 6-7 tháng, cao hơn tiền gửi cùng kỳ hạn khoảng 2-3 điểm phần trăm.
Vì vậy, không nên chỉ nhìn lãi suất niêm yết. Mức thực trả còn phụ thuộc số dư, kênh gửi và thỏa thuận riêng: tiền gửi từ 500 triệu đồng trở lên đang được nhiều chi nhánh áp dụng từ 9%/năm, trong khi bảng niêm yết công khai thường thấp hơn đáng kể. Ngân hàng Nhà nước cũng đã yêu cầu không để phát sinh mặt bằng lãi suất thực tế cao hơn mức công bố.
Tín dụng chạy nhanh hơn huy động. Đến 13/7/2026, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đạt gần 20,1 triệu tỷ đồng, tăng 7,86% so với cuối 2025, còn tăng trưởng huy động lệch khoảng 2 điểm phần trăm, tương đương thiếu hụt 1,5-2 triệu tỷ đồng. Đây là gốc rễ của mọi áp lực lãi suất hiện nay.
LDR ở vùng rất cao. Tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi của nhiều ngân hàng dao động 112-117%, nghĩa là cứ huy động 100 đồng thì cho vay khoảng 112 đồng, phần chênh phải bù bằng chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu hoặc vốn liên ngân hàng, tức nguồn vốn đắt hơn tiền gửi dân cư.
Lạm phát chưa cho phép hạ lãi suất thực. CPI bình quân 6 tháng đầu năm 2026 tăng 4,38%, lạm phát cơ bản tăng 4,12%. Với mức này, tiền gửi dưới 6 tháng ở trần 4,75%/năm gần như chỉ bảo toàn sức mua, còn kỳ hạn 6-12 tháng mới tạo lãi suất thực dương rõ rệt.
Tỷ giá và chênh lệch VND-USD là ràng buộc cứng. Điểm ít được nhắc tới: chốt phiên 24/7, lãi suất liên ngân hàng VND qua đêm chỉ 2,5%/năm trong khi USD qua đêm ở 3,65%/năm, tức chênh lệch đang âm khoảng 1,15 điểm phần trăm. Trạng thái này khuyến khích nắm giữ USD và giải thích vì sao tỷ giá trung tâm hôm nay lập đỉnh lịch sử. Ngân hàng Nhà nước khó bơm thêm thanh khoản giá rẻ nếu không muốn tỷ giá căng thêm.
Chi phí vốn quốc tế vẫn đắt. Lãi suất Fed duy trì ở mức 3,50-3,75% và thị trường vẫn định giá khả năng tăng trong năm nay, chỉ số DXY quanh 101,5 điểm. Kỳ vọng Fed nới lỏng đã lùi xa, nên dư địa giảm lãi suất trong nước bị thu hẹp tương ứng.

Hãy so lãi suất danh nghĩa với CPI 4,38%. Kỳ hạn dưới 6 tháng ở 4,75%/năm chỉ cho lãi suất thực khoảng 0,4 điểm phần trăm, gần như không sinh lời sau lạm phát. Kỳ hạn 6-12 tháng ở vùng 6,6-7,8%/năm cho lãi suất thực khoảng 2,2-3,4 điểm phần trăm, chênh lệch đáng kể.
Thử với 100 triệu đồng, lĩnh lãi cuối kỳ:
Kỳ hạn 3 tháng, 4,75%/năm: khoảng 1.171.233 đồng tiền lãi.
Kỳ hạn 6 tháng, 7,6%/năm: khoảng 3.747.945 đồng tiền lãi.
Kỳ hạn 12 tháng, 7,8%/năm: khoảng 7.693.151 đồng tiền lãi.
Chênh lệch giữa gửi 12 tháng ở ngân hàng cao nhất và ở nhóm Big4 (6,8%/năm, khoảng 6.706.849 đồng) là gần một triệu đồng cho mỗi 100 triệu, tức mỗi tỷ đồng lệch gần 10 triệu đồng một năm.
Rủi ro khi chạy theo lãi suất cao nằm ở ba chỗ: điều kiện số dư tối thiểu rất lớn, ràng buộc kỳ hạn khiến rút trước hạn chỉ còn lãi không kỳ hạn, và mức chào cao nhất thường chỉ áp dụng cho một nhóm khách hàng hẹp. Cần phân biệt ba sản phẩm: tiền gửi tiết kiệm được bảo hiểm tiền gửi và linh hoạt nhất; chứng chỉ tiền gửi trả lãi cao hơn nhưng thường khó rút trước hạn; trái phiếu ngân hàng trả cao nhất, hiện quanh 9,3-9,7%/năm, nhưng là quan hệ chủ nợ với tổ chức phát hành, không phải tiền gửi.
Lãi suất cho vay bình quân đã lên 10,5%/năm trong tháng 6, trong khi mặt bằng chung của các khoản vay mới và cũ còn dư nợ ở 8,1-10,5%/năm. Riêng lĩnh vực ưu tiên vẫn được vay ngắn hạn bình quân khoảng 3,9%/năm, thấp hơn trần quy định 4%/năm, cho thấy tín dụng đang được điều tiết theo định hướng ngành.
Cú sốc lớn nhất với người mua nhà là thời điểm hết ưu đãi. Thực tế ghi nhận trường hợp khoản vay tại nhóm Big4 chuyển từ lãi ưu đãi 6%/năm sang lãi suất thả nổi 10,5%/năm, khiến tổng gốc và lãi phải trả hàng tháng tăng từ khoảng 11 triệu lên 20 triệu đồng trên dư nợ gốc 1,1 tỷ đồng.
Công thức dễ hiểu để biết vì sao lãi vay khó giảm:
Lãi vay = chi phí huy động + chi phí hoạt động + phần bù rủi ro + biên lợi nhuận ngân hàng
Khi ngân hàng phải trả 9%/năm cho chứng chỉ tiền gửi và 7,3%/năm cho vốn liên ngân hàng kỳ hạn 1 tháng, cấu phần đầu tiên của công thức đã bị đẩy lên, và đầu ra gần như chắc chắn đi theo. Quy tắc an toàn thực tế: tổng nghĩa vụ trả nợ hàng tháng không vượt quá 40% thu nhập, và nên tính sẵn kịch bản lãi thả nổi cao hơn 2-3 điểm phần trăm so với mức được chào.
Lãi suất tiền gửi cao đang hút mạnh dòng tiền: tiền gửi dân cư đến cuối tháng 5/2026 vượt 10,82 triệu tỷ đồng, mức kỷ lục, tăng hơn 108.000 tỷ đồng chỉ trong một tháng. Dòng tiền vào kênh an toàn nhiều hơn đồng nghĩa với ít vốn hơn cho tài sản rủi ro.
Với tỷ giá, biến số quyết định là chênh lệch lãi suất VND-USD chứ không phải lãi suất niêm yết. Khi chênh lệch qua đêm chuyển sang âm, áp lực lên VND tăng ngay, và tỷ giá trung tâm 25.306 đồng hôm nay là biểu hiện trực tiếp.
Với bất động sản, ngưỡng tâm lý của người mua nhà nằm quanh mức lãi vay một chữ số, trong khi mặt bằng thực tế đã trên 10%. Chừng nào lãi vay chưa lùi về vùng đó, sức cầu thật khó bật lại, dù nguồn cung có cải thiện.
Với vàng và cổ phiếu, lãi suất thực dương ở kỳ hạn 6-12 tháng làm tăng chi phí cơ hội của việc nắm giữ tài sản không sinh lợi tức. Nhưng nếu Fed phát tín hiệu cứng rắn và USD mạnh thêm, kỳ vọng lạm phát nhập khẩu có thể quay lại hỗ trợ vàng.
Lãi suất ngân hàng nào cao nhất hiện nay?
Trên bảng niêm yết trực tuyến ngày 28/7/2026, ACB dẫn đầu với 7,6%/năm kỳ hạn 6 tháng, 7,7% kỳ hạn 9 tháng và 7,8% kỳ hạn 12 tháng. Một số ngân hàng khác trả 7%/năm cho nhiều kỳ hạn. Mức cao hơn thường đi kèm điều kiện số dư rất lớn.
Gửi tiết kiệm kỳ hạn nào có lợi nhất?
Kỳ hạn 6-12 tháng đang cân bằng tốt nhất giữa lãi suất gửi tiết kiệm và tính linh hoạt. Bình quân toàn hệ thống, nhóm kỳ hạn này đạt 6,1-7,6%/năm, cao hơn nhóm trên 12 đến 24 tháng ở 5,9-7,3%/năm. Kỳ hạn dưới 6 tháng bị chặn trần và gần như không sinh lời thực.
Lãi suất cho vay có giảm trong thời gian tới không?
Khó giảm nhanh trên diện rộng. Chừng nào tín dụng còn tăng nhanh hơn huy động khoảng 2 điểm phần trăm và LDR còn ở 112-117%, chi phí đầu vào vẫn cao. Kịch bản hợp lý nhất trong nửa cuối năm là đi ngang và phân hóa theo từng ngân hàng, từng nhóm khách hàng.
Chứng chỉ tiền gửi khác gì tiết kiệm?
Chứng chỉ tiền gửi là giấy tờ có giá do ngân hàng phát hành, thường trả lãi cao hơn tiết kiệm cùng kỳ hạn khoảng 2-3 điểm phần trăm, hiện có nơi lên tới 9%/năm. Đổi lại, sản phẩm này thường kém linh hoạt hơn khi cần rút vốn trước hạn.
Lãi suất Fed ảnh hưởng gì đến Việt Nam?
Fed giữ lãi suất ở 3,50-3,75% khiến USD neo cao và thu hẹp chênh lệch lãi suất VND-USD. Khi chênh lệch này quá mỏng hoặc âm, tỷ giá chịu sức ép, buộc Ngân hàng Nhà nước phải thận trọng hơn với việc bơm thanh khoản, qua đó giữ mặt bằng lãi suất trong nước ở mức cao.
Bức tranh lãi suất hôm nay không thể tóm gọn bằng một con số. Một ngân hàng giảm 0,2 điểm phần trăm ở kỳ hạn dài, nhưng lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn 1 tháng vẫn tăng lên 7,3%/năm, chứng chỉ tiền gửi chạm 9%/năm, LDR ở 112-117% và lãi vay bình quân đã lên 10,5%/năm. Đó là hệ thống đang thiếu vốn có kỳ hạn, chứ không phải đang dư tiền.
Nhìn về cuối năm, khả năng cao là lãi suất phân hóa thay vì giảm đồng loạt: nhóm ngân hàng lớn giữ mặt bằng thấp, nhóm căng thanh khoản tiếp tục trả cao qua chứng chỉ tiền gửi và trái phiếu. Người gửi tiền nên so lãi suất danh nghĩa với CPI 4,38% và ưu tiên vùng kỳ hạn 6-12 tháng thay vì chạy theo mức chào cao nhất. Người vay nên nhìn vào chi phí vốn thực của ngân hàng và biên độ thả nổi trong hợp đồng, vì đó mới là con số quyết định dòng tiền, chứ không phải lãi suất ưu đãi năm đầu.