Đăng vào: 2026-07-20
Cập nhật vào: 2026-07-20
Tỷ giá USD/VND phiên trưa 20/7/2026 ghi nhận tỷ giá trung tâm ở 25.252 VND/USD, giảm 2 VND, tương đương 0,008%, so với phiên 17/7. Vietcombank niêm yết USD lúc 08:05 ở 26.080 VND mua tiền mặt, 26.110 VND mua chuyển khoản và 26.490 VND bán ra. Khảo sát thị trường tự do lúc 09:15 ghi nhận 26.500 VND mua vào và 26.600 VND bán ra.

Áp lực hiện tập trung ở giá giao dịch hơn là mốc điều hành. Giá bán Vietcombank chỉ thấp hơn trần biên độ khoảng 25 VND, trong khi chỉ số DXY đã giảm gần 0,6% so với đầu tháng. Việc thấu hiểu sức mạnh của đồng bạc xanh thông qua chỉ số DXY rất quan trọng, vì sự phân kỳ này cho thấy cung cầu ngoại tệ trong nước, nhập siêu và điều tiết thanh khoản đang ảnh hưởng đến USD/VND rõ hơn biến động chung của đồng USD.
Tỷ giá trung tâm giảm 2 VND so với cuối tuần trước, nhưng tăng 46 VND, tương đương 0,182%, từ đầu tháng và tăng 131 VND, tương đương 0,521%, từ cuối năm 2025.
Với biên độ ±5%, sàn và trần lý thuyết là 23.989,4 và 26.514,6 VND/USD, tương ứng 23.989 và 26.515 VND/USD sau khi làm tròn.
Giá bán Vietcombank còn cách trần 24,6 VND, tương đương 0,093%.
Giá bán thị trường tự do cao hơn Vietcombank 110 VND, tương đương premium 0,415%. Chiều mua cao hơn giá mua chuyển khoản Vietcombank 390 VND, tương đương 1,494%.
Trong mẫu niêm yết chính thức, NCB bán chuyển khoản ở 26.450 VND/USD, thấp hơn Vietcombank 40 VND. Chênh lệch chi phí là 40.000 VND cho $1.000 và 400.000 VND cho $10.000.
DXY quanh 100,72, thấp hơn khoảng 0,6% so với mức 101,32 ngày 1/7, dù tỷ giá trung tâm tăng 0,182%. Đây là phân kỳ theo hướng, không phải hệ số tương quan thống kê.
| Thị trường/ngân hàng | Mua tiền mặt | Mua chuyển khoản | Bán ra | Thay đổi | Giờ cập nhật |
|---|---|---|---|---|---|
| Cục Quản lý ngoại hối | 24.040 | Không niêm yết | 26.464 | -2/-2 so với 17/7 | Áp dụng 20/7 |
| Vietcombank | 26.080 | 26.110 | 26.490 | +50/+50 so với 17/7 | 08:05 |
| VRB | 26.080 | 26.110 | 26.490 | Chưa có chuỗi đồng nhất | 08:45 |
| NCB, USD mệnh giá lớn | 25.700 | 25.950 | 26.450 chuyển khoản; 26.514 tiền mặt | Chưa có chuỗi đồng nhất | Hiệu lực 20/7 |
| Thị trường tự do | 26.500 | Không áp dụng | 26.600 | Không đổi | 09:15 |
Nguồn dữ liệu: NHNN, Vietcombank, VRB, NCB và khảo sát thị trường lúc 09:15. Tỷ giá ngân hàng chỉ mang tính tham khảo và có thể thay đổi trong ngày.
Vietcombank và VRB có giá mua chuyển khoản cao nhất trong mẫu, cùng ở 26.110 VND/USD. NCB có giá bán chuyển khoản thấp nhất, nhưng giá bán tiền mặt 26.514 VND/USD lại chỉ thấp hơn trần làm tròn 1 VND. Người đọc phải so đúng phương thức giao dịch, không chọn ngân hàng chỉ từ một cột “mua” hoặc “bán”.
Tỷ giá trung tâm là mốc điều hành, không phải mức giá giao dịch bắt buộc. NHNN giảm mốc này 2 VND, nhưng các ngân hàng vẫn nâng giá USD so với cuối tuần trước. Tín hiệu trái chiều cho thấy nhu cầu thanh toán và trạng thái ngoại tệ của ngân hàng quan trọng hơn một thay đổi rất nhỏ của tỷ giá trung tâm trong một phiên.
Khoảng cách dưới 0,1% giữa giá bán Vietcombank và trần làm thị trường nhạy hơn với nhu cầu USD doanh nghiệp, giá dầu và thanh khoản VND. Nếu tỷ giá trung tâm không tăng, ngân hàng gần như không còn nhiều dư địa nâng giá bán trong biên độ hiện hành.
Thị trường tự do bán cao hơn Vietcombank 110 VND và mua vào cao hơn giá mua chuyển khoản ngân hàng 390 VND. Đây chưa phải bằng chứng hệ thống thiếu USD, nhưng là chỉ báo tâm lý phòng thủ.
DXY lên 100,84 đầu phiên châu Á rồi dao động quanh 100,72. USD/JPY ở khoảng 162,48, EUR/USD ở 1,1426 và Brent vượt $90/thùng. Đồng USD được hỗ trợ bởi nhu cầu trú ẩn, còn dầu cao làm tăng hóa đơn nhập khẩu năng lượng và rủi ro lạm phát nhập khẩu của Việt Nam.
Lực tăng USD chưa hoàn toàn vững. CPI Mỹ tháng 6 giảm 0,4% so với tháng trước và tăng 3,5% theo năm. CPI lõi không tăng trong tháng, tăng 2,6% theo năm. Việc làm phi nông nghiệp tăng 57.000, thất nghiệp ở 4,2%. Dữ liệu này giới hạn khả năng DXY tăng liên tục chỉ nhờ kỳ vọng lãi suất.
Fed giữ lãi suất mục tiêu 3,50% đến 3,75%. Lợi suất Treasury ngày 17/7 là 3,85% ở kỳ hạn 3 tháng và 4,55% ở kỳ hạn 10 năm. Tài sản USD còn hấp dẫn, nhưng lợi suất dài hạn cao cũng có thể chứa phần bù rủi ro lạm phát và tài khóa.

Sáu tháng đầu năm 2026, xuất khẩu đạt $266,52 tỷ và nhập khẩu đạt $283,17 tỷ. Nhập khẩu tăng 33,4%, nhanh hơn mức tăng 21,0% của xuất khẩu, khiến tình hình cán cân thương mại ghi nhận nhập siêu $16,65 tỷ. Tháng 6 là tháng nhập siêu thứ bảy liên tiếp từ tháng 12/2025. Đây là cầu USD phục vụ thanh toán thật.
Nhập siêu không hoàn toàn tiêu cực nếu phần tăng đến từ đầu vào sản xuất. Tuy nhiên, doanh nghiệp phải mua USD trước khi hàng nhập khẩu tạo doanh thu, nên áp lực ngoại hối xuất hiện sớm hơn lợi ích tăng trưởng.
Nguồn cung ngoại tệ vẫn có điểm đỡ. FDI giải ngân đạt $13,03 tỷ, tăng 11,2%; khách quốc tế đạt 12,25 triệu lượt, tăng 14,9%. Dù vậy, các dòng vào này chưa triệt tiêu hoàn toàn sức ép khi nhập khẩu đang tăng nhanh hơn xuất khẩu.
CPI Việt Nam bình quân sáu tháng tăng 4,38%, lạm phát cơ bản tăng 4,12%. NHNN phải cân bằng tỷ giá, thanh khoản, lạm phát và sức cạnh tranh. Tỷ giá trung tâm mới tăng 0,521% từ cuối năm, cho thấy nhịp điều chỉnh vẫn thận trọng.
Mỗi 100 VND tăng trên một USD làm chi phí khoản thanh toán $1 triệu tăng 100 triệu VND, chưa tính phí. Người bán USD tiền mặt phải xem cột mua tiền mặt; người nhận tiền qua tài khoản phải xem cột mua chuyển khoản.
Kịch bản tăng: DXY vượt rõ 101, dầu duy trì trên $90, giá ngân hàng liên tục áp sát trần và premium thị trường tự do mở rộng. Áp lực khi đó đến đồng thời từ USD quốc tế, chi phí nhập khẩu và kỳ vọng tỷ giá.
Kịch bản đi ngang: DXY giữ vùng 100 đến 101, Fed chưa đổi lãi suất, còn FDI và du lịch bù một phần nhu cầu nhập khẩu. USD/VND có thể ở gần trần nhưng không tăng liên tục.
Kịch bản hạ nhiệt: DXY xuống dưới 100, dầu giảm, nhập siêu thu hẹp và premium thị trường tự do co lại. Rủi ro phản biện là nhu cầu thanh toán cuối tháng hoặc thanh khoản VND có thể giữ tỷ giá cao dù USD quốc tế suy yếu.
Tỷ giá trung tâm ngày 20/7/2026 là 25.252 VND/USD. Vietcombank niêm yết 26.080 VND mua tiền mặt, 26.110 VND mua chuyển khoản và 26.490 VND bán ra lúc 08:05. Giá giao dịch thực tế có thể khác theo quy mô và mục đích.
Trong mẫu chính thức được kiểm tra, NCB bán chuyển khoản ở 26.450 VND/USD, thấp hơn Vietcombank và VRB 40 VND. NCB bán tiền mặt ở 26.514 VND/USD. Kết quả vì vậy phụ thuộc phương thức mua.
Hai thị trường khác nhau về nguồn cung, điều kiện giao dịch, chi phí tuân thủ, tính minh bạch và bảo vệ pháp lý. Premium cao có thể phản ánh nhu cầu tiền mặt hoặc tâm lý phòng thủ, nhưng không tự động chứng minh hệ thống ngân hàng thiếu USD.
Không. Từ đầu tháng 7 đến phiên trưa 20/7, DXY giảm gần 0,6% nhưng tỷ giá trung tâm tăng khoảng 0,182%. Có thể thấy, sự chênh lệch này chịu ảnh hưởng từ các yếu tố tác động đến tỷ giá hối đoái trong nước như cán cân thương mại, FDI, thanh khoản VND và cách điều phối của NHNN.
Tỷ giá USD/VND ngày 20/7 căng ở giá giao dịch hơn ở tỷ giá trung tâm. Giá bán ngân hàng gần hết biên độ, thị trường tự do duy trì premium và nhập siêu tạo cầu USD thật. Chỉ báo quan trọng nhất là khoảng cách giữa giá bán ngân hàng với trần, đi cùng độ rộng premium thị trường tự do.