Đăng vào: 2026-08-25
Cập nhật vào: 2026-08-25
Ngày 25/8/2026, MB áp dụng chương trình cộng thêm 1,5 điểm phần trăm/năm cho tiền gửi kỳ hạn 1–6 tháng, với số tiền gửi từ 10 triệu đồng, không phân biệt khách hàng mới hay khách hàng hiện hữu. Sau ưu đãi, lãi suất kỳ hạn 6 tháng tại MB lên 7,3%/năm; riêng chương trình gửi trực tuyến vào hai ngày cuối tuần có thể đưa mức này lên 7,8%/năm với số tiền tối thiểu 20 triệu đồng.
Mức lãi suất cao nhất không áp dụng đồng loạt cho mọi khoản tiền gửi. Người gửi cần tách biệt lãi suất niêm yết, lãi suất sau ưu đãi, tiền gửi trực tuyến, tiền gửi tại quầy và sản phẩm chứng chỉ tiền gửi. Bên cạnh bảng lãi suất hôm nay, diễn biến tín dụng, tiền gửi, tiền gửi không kỳ hạn và thanh khoản cũng cho thấy vì sao các ngân hàng vẫn phải cạnh tranh nguồn vốn dù tổng tiền gửi dân cư đã lập kỷ lục.

Tính đến 14 giờ ngày 25/8/2026, thị trường lãi suất ngân hàng có những điểm đáng chú ý sau:
MB cộng thêm 1,5 điểm phần trăm/năm cho tiền gửi kỳ hạn 1–6 tháng, áp dụng từ ngày 25/8 đến ngày 24/9/2026.
Sau chương trình cộng thêm, lãi suất kỳ hạn 6 tháng tại MB lên 7,3%/năm đối với khoản tiền gửi từ 10 triệu đồng.
Chương trình trực tuyến vào hai ngày cuối tuần của MB có thể đưa lãi suất kỳ hạn 6 tháng lên 7,8%/năm, với số tiền tối thiểu 20 triệu đồng.
Trong bảng lãi suất trực tuyến được cập nhật cùng ngày, ACB đứng ở mức 7,6%/năm tại kỳ hạn 6 tháng, 7,7%/năm tại kỳ hạn 9 tháng và 7,8%/năm tại kỳ hạn 12 tháng.
Nhóm ngân hàng thương mại nhà nước được báo cáo áp dụng khoảng 6,6%/năm cho kỳ hạn 6–11 tháng và 6,8%/năm cho kỳ hạn 12–18 tháng đối với khách hàng thông thường.
Cần lưu ý rằng các mức trên thuộc những nhóm dữ liệu khác nhau. Mức của MB là lãi suất sau ưu đãi, trong khi các mức của ACB và nhóm ngân hàng thương mại nhà nước là lãi suất trực tuyến được tổng hợp trong cùng một bảng tham khảo. Không nên lấy các con số này để kết luận ngân hàng nào luôn có lãi suất cao nhất trên toàn thị trường.
Bảng dưới đây sử dụng các mức lãi suất trực tuyến được công bố trong bản cập nhật ngày 25/8/2026. Bảng cùng nguồn chỉ nêu các kỳ hạn 3, 6, 9, 12 và 18 tháng; những kỳ hạn 1 tháng và 24 tháng được ghi là chưa nêu để tránh điền dữ liệu bằng phỏng đoán.
Đơn vị: %/năm.
| Ngân hàng | 1 tháng | 3 tháng | 6 tháng | 9 tháng | 12 tháng | 18 tháng | 24 tháng | Hình thức gửi và điều kiện |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Agribank | Chưa nêu | 4,75 | 6,6 | 6,6 | 6,8 | 6,8 | Chưa nêu | Trực tuyến; điều kiện tiền gửi tối thiểu chưa nêu |
| BIDV | Chưa nêu | 4,75 | 6,6 | 6,6 | 6,8 | 6,8 | Chưa nêu | Trực tuyến; điều kiện tiền gửi tối thiểu chưa nêu |
| Vietcombank | Chưa nêu | 4,75 | 6,6 | 6,6 | 6,8 | 6,8 | Chưa nêu | Trực tuyến; điều kiện tiền gửi tối thiểu chưa nêu |
| VietinBank | Chưa nêu | 4,75 | 6,6 | 6,6 | 6,8 | 6,8 | Chưa nêu | Trực tuyến theo bảng tổng hợp; cần đối chiếu trang chính thức |
| ACB | Chưa nêu | 4,75 | 7,6 | 7,7 | 7,8 | Chưa nêu | Chưa nêu | Trực tuyến; điều kiện ưu đãi chưa nêu |
| LPBank | Chưa nêu | 4,65 | 7,0 | 6,9 | 7,2 | 7,15 | Chưa nêu | Trực tuyến; điều kiện tiền gửi tối thiểu chưa nêu |
| PGBank | Chưa nêu | 4,75 | 6,9 | 6,9 | 7,0 | 6,8 | Chưa nêu | Trực tuyến; điều kiện ưu đãi chưa nêu |
| Saigonbank | Chưa nêu | 4,75 | 6,9 | 6,7 | 7,2 | 7,0 | Chưa nêu | Trực tuyến; điều kiện tiền gửi tối thiểu chưa nêu |
| MB | Chưa nêu | 4,7 | 5,8 | 5,8 | 6,35 | 6,35 | Chưa nêu | Mức niêm yết trực tuyến; ưu đãi riêng đưa kỳ hạn 6 tháng lên 7,3% hoặc 7,8% |
| VIB | Chưa nêu | 4,45 | 5,7 | 5,8 | 7,0 | 5,9 | Chưa nêu | Trực tuyến; điều kiện ưu đãi chưa nêu |
Đây là bảng tham khảo theo kênh trực tuyến, không phải bảng lãi suất áp dụng cho mọi sản phẩm và mọi nhóm khách hàng. Phương thức nhận lãi, số tiền tối thiểu và điều kiện chương trình cần được kiểm tra lại trên biểu lãi suất chính thức của từng ngân hàng trước khi gửi tiền.
Một ngân hàng có thể công bố nhiều bảng lãi suất vì:
Lãi suất tại quầy khác với lãi suất trực tuyến.
Khách hàng thông thường có mức khác khách hàng ưu tiên.
Tiền gửi nhỏ và tiền gửi lớn có thể được áp dụng các bậc lãi suất riêng.
Khoản tiền gửi mới có thể được cộng thêm lãi suất.
Một số chương trình chỉ áp dụng trong thời gian ngắn.
Tiền gửi thông thường khác với chứng chỉ tiền gửi.
Phương thức nhận lãi đầu kỳ, định kỳ hoặc cuối kỳ có thể tạo ra mức quy đổi khác nhau.
Trang lãi suất chính thức của VietinBank hiện hiển thị mức 3,5%/năm cho kỳ hạn 6–11 tháng và 5,9%/năm cho nhiều kỳ hạn từ 12 đến dưới 24 tháng. Sự khác biệt này so với một số bảng tổng hợp trực tuyến cho thấy người đọc không nên trộn lẫn lãi suất tại quầy, lãi suất trực tuyến và lãi suất của sản phẩm riêng.
Câu trả lời phụ thuộc vào kỳ hạn, hình thức gửi và điều kiện áp dụng.
Mức 4,75%/năm xuất hiện tại nhiều ngân hàng trong bảng trực tuyến ngày 25/8. Đây cũng là vùng lãi suất cao phổ biến đối với các kỳ hạn ngắn, nhưng không nên hiểu rằng mọi sản phẩm dưới 6 tháng đều có cùng mức lãi suất.
Trong bảng lãi suất trực tuyến được cập nhật ngày 25/8, ACB ở mức 7,6%/năm, cao hơn mức niêm yết 5,8%/năm của MB trước khi áp dụng chương trình cộng thêm.
Tuy nhiên, sau ưu đãi, MB nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng lên 7,3%/năm cho khoản tiền gửi từ 10 triệu đồng. Nếu gửi trực tuyến cố định trả lãi cuối kỳ vào hai ngày cuối tuần theo chương trình riêng, mức lãi suất có thể lên 7,8%/năm với số tiền tối thiểu 20 triệu đồng.
Như vậy, ACB có mức cao hơn trong bảng niêm yết trực tuyến được tổng hợp, còn MB có mức ưu đãi đặc biệt cao hơn mức niêm yết cơ bản.
ACB được ghi nhận ở mức 7,7%/năm trong bảng trực tuyến ngày 25/8. Một số ngân hàng khác như LPBank, PGBank, Saigonbank và VIB có mức thấp hơn hoặc khác nhau tùy sản phẩm.
ACB được ghi nhận ở mức 7,8%/năm. LPBank và Saigonbank cùng ở mức 7,2%/năm trong bảng tham khảo, trong khi một số ngân hàng khác dao động quanh 6,8–7,0%/năm.
LPBank được ghi nhận ở mức 7,15%/năm. PGBank và Saigonbank lần lượt ở mức 6,8% và 7,0%/năm trong cùng bảng.
Bảng cập nhật ngày 25/8 được sử dụng ở trên không nêu kỳ hạn 24 tháng. Vì vậy, không nên tự suy ra mức lãi suất 24 tháng từ kỳ hạn 18 tháng hoặc 36 tháng.
Một bảng tổng hợp khác trong tháng 8 ghi nhận một số mức 24 tháng quanh 7,0–7,1%/năm tại một số ngân hàng, nhưng đây là bộ dữ liệu khác về thời điểm và cách tổng hợp. Mức này chỉ nên dùng để tham khảo, không dùng để xếp hạng tuyệt đối với bảng ngày 25/8.
MB hiện là trường hợp đáng chú ý nhất trong nhóm chương trình cộng thêm lãi suất:
Từ 1–5 tháng: mức sau ưu đãi 4,75%/năm.
Kỳ hạn 6 tháng: 7,3%/năm với số tiền gửi từ 10 triệu đồng.
Gửi trực tuyến vào hai ngày cuối tuần: kỳ hạn 6 tháng có thể lên 7,8%/năm, số tiền tối thiểu 20 triệu đồng.
Thời gian chương trình cộng thêm 1,5 điểm phần trăm: từ ngày 25/8 đến ngày 24/9/2026.
Mức 7,8%/năm không phải mức áp dụng cho toàn bộ thời gian và mọi cách gửi. Người gửi phải đáp ứng đúng kênh, ngày gửi, kỳ hạn, phương thức nhận lãi và số tiền tối thiểu.
| Nhóm ngân hàng | Mức tham khảo kỳ hạn 6 tháng | Mức tham khảo kỳ hạn 12 tháng | Đặc điểm cần chú ý |
|---|---|---|---|
| Agribank, BIDV, Vietcombank, VietinBank trong bảng trực tuyến | 6,6% | 6,8% | Mức này cần gắn với đúng sản phẩm trực tuyến |
| ACB | 7,6% | 7,8% | Cao trong bảng trực tuyến ngày 25/8 |
| LPBank | 7,0% | 7,2% | Kỳ hạn 18 tháng được ghi nhận 7,15% |
| PGBank | 6,9% | 7,0% | Kỳ hạn 18 tháng khoảng 6,8% |
| Saigonbank | 6,9% | 7,2% | Mức kỳ hạn dài không nhất thiết tăng đều |
| MB | 5,8% trước ưu đãi | 6,35% trước ưu đãi | Kỳ hạn 6 tháng được cộng thêm lên 7,3% hoặc 7,8% tùy chương trình |
Nhóm ngân hàng thương mại nhà nước thường có lợi thế về quy mô tiền gửi, mạng lưới và nguồn tiền tổ chức. Tuy nhiên, mức lãi suất cao hơn hoặc thấp hơn không thể được dùng một mình để kết luận ngân hàng nào phù hợp hơn.
Người gửi tiền cần so sánh thêm:
Mức độ ổn định của sản phẩm.
Điều kiện rút tiền trước hạn.
Khả năng tái tục.
Số tiền tối thiểu.
Phương thức nhận lãi.
Mức chênh lệch giữa gửi tại quầy và trực tuyến.
Tính minh bạch của chương trình cộng thêm.
Một mức lãi suất cao hơn 0,5 điểm phần trăm có thể tạo thêm tiền lãi, nhưng nếu người gửi phải tất toán trước hạn thì lợi ích đó có thể nhanh chóng biến mất.
Với khoản tiền gửi nhận lãi cuối kỳ và giữ đủ kỳ hạn, có thể sử dụng công thức:
Tiền lãi = Tiền gốc × Lãi suất năm × Số tháng gửi / 12
| Tiền gửi | Lãi suất giả định | Kỳ hạn | Tiền lãi dự kiến |
|---|---|---|---|
| 50 triệu đồng | 7,3%/năm | 6 tháng | 1,825 triệu đồng |
| 50 triệu đồng | 7,8%/năm | 6 tháng | 1,95 triệu đồng |
| 100 triệu đồng | 7,3%/năm | 6 tháng | 3,65 triệu đồng |
| 100 triệu đồng | 7,8%/năm | 6 tháng | 3,9 triệu đồng |
| 100 triệu đồng | 6,8%/năm | 12 tháng | 6,8 triệu đồng |
| 500 triệu đồng | 6,8%/năm | 12 tháng | 34 triệu đồng |
| 1 tỷ đồng | 7,8%/năm | 6 tháng | 39 triệu đồng |
Các phép tính trên chỉ phản ánh tiền lãi dự kiến nếu người gửi đủ điều kiện hưởng đúng mức lãi suất và không rút tiền trước hạn.
Với khoản 100 triệu đồng gửi 6 tháng, chênh lệch giữa lãi suất 7,3% và 7,8% là:
100 triệu đồng × 0,5% × 6/12 = 250.000 đồng
Như vậy, việc chạy theo mức cao hơn 0,5 điểm phần trăm chỉ tạo thêm 250.000 đồng trên khoản tiền 100 triệu đồng trong 6 tháng. Người gửi cần cân nhắc khoản lợi này với điều kiện phải gửi đúng ngày, đúng kênh và đúng sản phẩm.
Lãi tiền gửi của cá nhân tại tổ chức tín dụng hiện thuộc diện miễn thuế thu nhập cá nhân. Tuy nhiên, các phép tính trên chưa bao gồm những điều kiện riêng của từng sản phẩm hoặc các khoản chi phí khác nếu có.
Đến ngày 31/7/2026, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đạt gần 20,3 triệu tỷ đồng, tăng 8,98% so với cuối năm 2025. Dư nợ tín dụng của doanh nghiệp đạt trên 10,7 triệu tỷ đồng, chiếm 53,4% tổng dư nợ.
Trong khi đó, đến cuối tháng 6, tiền gửi dân cư đạt 11,069 triệu tỷ đồng, tăng 7,1%; tổng tiền gửi của dân cư và tổ chức kinh tế đạt 17,44 triệu tỷ đồng, tăng 5,6%.
Nếu đặt mức tăng tín dụng cuối tháng 6 khoảng 8,37% cạnh mức tăng tổng tiền gửi 5,6%, chênh lệch sơ bộ là:
8,37% − 5,6% = 2,77 điểm phần trăm
Đây không phải là tỷ lệ thiếu hụt thanh khoản và cũng không phải tỷ lệ cho vay trên tiền gửi. Đây là phép so sánh tốc độ tăng trưởng, cho thấy nhu cầu sử dụng vốn đang tăng nhanh hơn tốc độ mở rộng của nguồn vốn tiền gửi.
Khi tín dụng tăng nhanh, ngân hàng có thể phải:
Tăng lãi suất kỳ hạn 6–12 tháng.
Phát hành chứng chỉ tiền gửi.
Phát hành trái phiếu.
Tăng tiền gửi trực tuyến.
Đưa ra ưu đãi cho khách hàng mới.
Thỏa thuận lãi suất với khách hàng có số dư lớn.
Tiền gửi không kỳ hạn, thường được gọi là CASA, là nguồn vốn có chi phí thấp đối với ngân hàng. Việc nắm rõ chỉ số casa trong ngân hàng là gì sẽ giải thích vì sao khi tỷ lệ CASA tại 27 ngân hàng niêm yết giảm từ 21,87% cuối năm 2025 xuống 20,43% cuối quý II/2026, các ngân hàng buộc phải chạy đua tăng lãi suất kỳ hạn để bù đắp nguồn vốn.
Điều này tạo ra một nghịch lý:
Tổng tiền gửi tăng.
Nhưng tỷ trọng tiền gửi giá rẻ giảm.
Ngân hàng phải huy động nhiều hơn ở các kỳ hạn có lãi suất cao.
Chi phí vốn bình quân có thể tăng.
Lãi suất huy động trở thành công cụ cạnh tranh khách hàng.
Vì thế, việc tiền gửi dân cư lập kỷ lục không đồng nghĩa ngân hàng đã có nguồn vốn vừa rẻ, vừa dài hạn, vừa ổn định.
Diễn biến lãi suất qua đêm trên thị trường lãi suất liên ngân hàng giảm mạnh từ 5,8%/năm xuống 3%/năm chỉ sau hai phiên giao dịch ngày 19–20/8. Lãi suất kỳ hạn một tuần cũng giảm còn 3,55%/năm.
Đây là dấu hiệu cho thấy áp lực vốn ngắn hạn giữa các ngân hàng đã giảm. Tuy nhiên, lãi suất liên ngân hàng không phải là lãi suất người dân nhận được khi gửi tiết kiệm.
Lãi suất liên ngân hàng phản ánh nhu cầu vay mượn vốn trong thời gian rất ngắn. Trong khi đó, lãi suất tiết kiệm 6–12 tháng còn chịu tác động của khả năng giữ chân khách hàng, kế hoạch tăng trưởng tín dụng và chiến lược huy động vốn của từng ngân hàng.
Ngân hàng Nhà nước đã nâng tỷ lệ tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước được tính vào nguồn vốn huy động của ngân hàng từ 20% lên 50%. Chính sách này giúp một số ngân hàng, đặc biệt là nhóm có lượng tiền gửi Kho bạc lớn, có thêm dư địa để đáp ứng tỷ lệ cho vay trên tiền gửi.
Tác động của chính sách có thể không đồng đều. Ngân hàng lớn có thêm nguồn vốn tổ chức sẽ bớt phụ thuộc vào việc tăng lãi suất tiền gửi dân cư, trong khi ngân hàng tư nhân ít có nguồn tiền này vẫn phải cạnh tranh mạnh ở các kỳ hạn 6–12 tháng.

Lãi suất huy động là chi phí ngân hàng trả cho người gửi tiền, trong khi mức lãi suất cho vay là khoản chi phí vốn mà cá nhân, doanh nghiệp phải trả cho ngân hàng. Hai mức này có mối liên hệ mật thiết nhưng không vận động hoàn toàn cùng tốc độ.
Theo công bố của Agribank cho tháng 7/2026:
Lãi suất cho vay bình quân: 8,53%/năm.
Chi phí vốn bình quân: 7,37%/năm.
Lãi suất huy động bình quân: 5,36%/năm.
Chi phí khác: 2,01%/năm.
Chênh lệch sau chi phí vốn: 1,16%/năm.
Lãi suất cho vay ngắn hạn trong một số lĩnh vực ưu tiên: 4%/năm.
Lãi suất cho vay thông thường ngắn hạn tối thiểu: 6,1%/năm.
Lãi suất cho vay trung và dài hạn tối thiểu: 7,8%/năm.
Nếu chỉ lấy lãi suất cho vay 8,53% trừ lãi suất huy động 5,36%, chênh lệch là 3,17 điểm phần trăm. Tuy nhiên, ngân hàng còn phải tính chi phí dự trữ thanh toán, bảo hiểm tiền gửi, phần bù kỳ hạn, chi phí hoạt động và dự phòng rủi ro.
Do đó, chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi không phải là lợi nhuận ròng của ngân hàng.
Đối với người vay, cần đặc biệt chú ý:
Lãi suất ưu đãi chỉ áp dụng trong thời gian nhất định.
Sau thời gian ưu đãi, khoản vay có thể chuyển sang lãi suất thả nổi.
Lãi suất tham chiếu có thể thay đổi.
Biên độ cộng thêm có thể khác nhau theo hồ sơ tín dụng.
Khoản vay trung và dài hạn chịu rủi ro lãi suất lớn hơn khoản vay ngắn hạn.
Đối với doanh nghiệp, lãi suất thấp chưa chắc đồng nghĩa vốn dễ tiếp cận. Điều kiện tài sản bảo đảm, dòng tiền, lịch sử tín dụng, ngành nghề và khả năng chứng minh hiệu quả kinh doanh vẫn quyết định việc giải ngân.
Một mức lãi suất 7,8% hoặc 9%/năm có thể là:
Lãi suất sau khi cộng thêm.
Lãi suất dành cho khách hàng mới.
Lãi suất chỉ áp dụng trong vài ngày.
Lãi suất dành cho chứng chỉ tiền gửi.
Lãi suất dành cho khoản tiền lớn.
Lãi suất đi kèm điều kiện gửi trực tuyến.
Không nên dùng mức sau ưu đãi để so sánh trực tiếp với mức niêm yết thông thường của ngân hàng khác.
Chương trình MB ngày 25/8 yêu cầu từ 10 triệu đồng đối với ưu đãi cộng thêm 1,5 điểm phần trăm. Chương trình trực tuyến cuối tuần yêu cầu từ 20 triệu đồng.
Nếu người gửi có số tiền thấp hơn mức tối thiểu, lãi suất thực nhận có thể quay về mức cơ bản.
Chương trình cộng thêm 1,5 điểm phần trăm của MB được công bố áp dụng từ ngày 25/8 đến ngày 24/9/2026. Sau ngày kết thúc, ngân hàng có thể thay đổi hoặc dừng chương trình.
Rút tiền trước hạn có thể khiến toàn bộ hoặc một phần khoản tiền gửi chỉ được hưởng lãi suất không kỳ hạn. Với người có khả năng cần sử dụng tiền đột xuất, kỳ hạn ngắn hoặc sản phẩm cho phép rút một phần gốc có thể phù hợp hơn việc khóa toàn bộ tiền trong 12–24 tháng.
Chứng chỉ tiền gửi có thể đưa ra lãi suất cao hơn tiền gửi thông thường, nhưng điều kiện chuyển nhượng, rút trước hạn và tính thanh khoản có thể khác. Không nên xem mức 9%/năm của chứng chỉ tiền gửi là mức lãi suất tiết kiệm phổ biến.
Từ ngày 13/7/2026, hạn mức chi trả bảo hiểm tiền gửi được nâng lên 350 triệu đồng/người/tổ chức, bao gồm tiền gốc và tiền lãi trong phạm vi được bảo hiểm.
Hạn mức này không có nghĩa khoản tiền vượt 350 triệu đồng chắc chắn bị mất. Tuy nhiên, người gửi số tiền lớn cần hiểu rõ phần nào nằm trong phạm vi bảo hiểm và cân nhắc phân bổ tiền gửi thay vì chỉ chọn ngân hàng có mức lãi suất cao nhất.
Tỷ giá là một biến số cần theo dõi khi đánh giá dư địa điều hành lãi suất. Ngày 25/8, tỷ giá trung tâm được VietinBank hiển thị ở mức 25.615 đồng/USD, trong khi Vietcombank niêm yết giá bán USD chuyển khoản quanh 26.360 đồng/USD.
Nếu tín dụng tăng nhanh, tỷ giá chịu áp lực và lạm phát duy trì ở mức cao, việc điều hành chính sách tiền tệ sẽ phải cân bằng giữa mục tiêu hỗ trợ tăng trưởng và ổn định giá trị đồng nội tệ. Vì vậy, lãi suất ngân hàng không chỉ phụ thuộc vào nhu cầu gửi tiền của người dân mà còn liên quan đến tỷ giá, dòng vốn và kỳ vọng lạm phát.
Nếu cần theo dõi tác động của lãi suất lên USD và xây dựng các kịch bản giao dịch tỷ giá, bạn có thể tham khảo thêm về giao dịch tỷ giá ngoại hối tại EBC.
| Kịch bản | Điều kiện dẫn đến | Nhóm chịu ảnh hưởng | Dấu hiệu cần theo dõi |
|---|---|---|---|
| Mặt bằng ổn định | Tín dụng tăng nhưng thanh khoản ngắn hạn không căng thẳng | Lãi suất 6–12 tháng duy trì quanh vùng hiện tại | Lãi suất qua đêm, tiền gửi và tăng trưởng tín dụng |
| Một số ngân hàng tiếp tục cộng thêm | Tín dụng tăng nhanh hơn huy động, CASA giảm, ngân hàng cần vốn kỳ hạn dài | Ngân hàng tư nhân, kỳ hạn 6–12 tháng, khách hàng mới | Chương trình cộng thêm, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu ngân hàng |
| Ưu đãi hạ nhiệt | Thanh khoản cải thiện, tín dụng chậm lại, nguồn tiền tổ chức tăng | Lãi suất sau ưu đãi và sản phẩm ngắn hạn | OMO, lãi suất liên ngân hàng, tỷ lệ tiền gửi trên tín dụng |
Đây là kịch bản có thể xảy ra nếu lãi suất liên ngân hàng duy trì ở mức thấp, tín dụng tăng nhưng không đột biến và dòng tiền gửi tiếp tục cải thiện. Khi đó, ngân hàng vẫn giữ lãi suất cạnh tranh nhưng không nhất thiết phải mở rộng chương trình cộng thêm.
Nếu tốc độ tăng tín dụng tiếp tục vượt nguồn vốn tiền gửi, các ngân hàng có tỷ lệ CASA thấp hoặc tỷ lệ cho vay trên tiền gửi cao có thể tiếp tục dùng chương trình cộng thêm để thu hút tiền gửi kỳ hạn 6–12 tháng.
Trong kịch bản này, mức lãi suất cao nhất có thể xuất hiện ở các sản phẩm có điều kiện, thay vì được điều chỉnh đồng loạt trên toàn thị trường.
Nếu thanh khoản hệ thống cải thiện rõ rệt, tiền gửi tăng nhanh hơn tín dụng và nhu cầu huy động vốn giảm, các chương trình cộng thêm có thể được thu hẹp. Tuy nhiên, mức giảm có thể không đồng đều giữa các ngân hàng vì mỗi tổ chức có cơ cấu tiền gửi, chất lượng tài sản và kế hoạch tín dụng khác nhau.
Khi tra cứu lãi suất ngân hàng gửi tiết kiệm trực tuyến ngày 25/8, ACB được ghi nhận ở mức 7,6%/năm cho kỳ hạn 6 tháng, 7,7%/năm cho kỳ hạn 9 tháng và 7,8%/năm cho kỳ hạn 12 tháng. Tuy nhiên, MB có chương trình ưu đãi đưa lãi suất kỳ hạn 6 tháng lên 7,3% hoặc 7,8% tùy thời điểm và điều kiện gửi.
Không. Mức cao nhất có thể chỉ áp dụng cho khách hàng mới, khoản tiền gửi đạt mức tối thiểu, kênh trực tuyến, ngày gửi cụ thể hoặc sản phẩm chứng chỉ tiền gửi.
Nếu gửi 100 triệu đồng với lãi suất 6,8%/năm và giữ đủ 12 tháng, tiền lãi dự kiến là 6,8 triệu đồng. Số tiền thực tế cần căn cứ vào phương thức trả lãi và điều kiện của sản phẩm.
Lãi suất niêm yết là mức cơ bản được ngân hàng công bố. Lãi suất thực nhận có thể cao hơn nếu khách hàng đủ điều kiện hưởng chương trình cộng thêm, nhưng cũng có thể thấp hơn nếu rút trước hạn hoặc chọn phương thức trả lãi khác.
Không nên chỉ dựa vào lãi suất. Kỳ hạn dài phù hợp khi người gửi chắc chắn chưa cần sử dụng tiền trong thời gian đó. Nếu phải tất toán trước hạn, phần lợi tức nhận được có thể thấp hơn đáng kể so với dự kiến ban đầu.
Lãi suất ngân hàng ngày 25/8/2026 tiếp tục phân hóa mạnh. MB là tâm điểm với chương trình cộng thêm 1,5 điểm phần trăm cho kỳ hạn 1–6 tháng, đưa lãi suất kỳ hạn 6 tháng lên 7,3%/năm và có thể lên 7,8%/năm trong chương trình trực tuyến cuối tuần. Tuy nhiên, đây là mức sau ưu đãi với điều kiện cụ thể, không phải lãi suất áp dụng đại trà cho mọi khách hàng.
Đằng sau cuộc đua lãi suất là sự chênh lệch giữa tốc độ tăng tín dụng và tiền gửi, sự suy giảm của tiền gửi không kỳ hạn và nhu cầu tìm kiếm nguồn vốn ổn định hơn. Người gửi tiền nên so sánh lãi suất theo cùng kỳ hạn, cùng phương thức gửi và cùng điều kiện áp dụng, đồng thời tính đến khả năng rút tiền trước hạn thay vì chỉ chọn con số cao nhất.
Trong các bản cập nhật tiếp theo, những chỉ báo cần theo dõi gồm chương trình cộng thêm mới, lãi suất liên ngân hàng, tăng trưởng tín dụng, tiền gửi dân cư, tỷ lệ CASA và diễn biến tỷ giá USD/VND.