Đăng vào: 2026-07-23
Cập nhật vào: 2026-07-23
Nền kinh tế Việt Nam khép lại nửa đầu năm 2026 với mức tăng trưởng GDP 8,18% - cao nhất trong nhiều năm và vượt xa mức 7,63% cùng kỳ. Nhưng đằng sau con số ấn tượng đó là một cấu trúc tăng trưởng đã thay đổi đáng kể: động lực dịch chuyển mạnh từ tiêu dùng sang tích lũy tài sản, cán cân thương mại đảo chiều sang nhập siêu 16,7 tỷ USD, lạm phát bình quân leo lên 4,38% - sát ngưỡng mục tiêu 4,5%, và ngân sách rơi vào trạng thái bội thu 419 nghìn tỷ đồng ngay trong năm mà Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng 10%. Quan trọng hơn, chỉ trong vòng 72 giờ sau khi các báo cáo vĩ mô nửa đầu năm được công bố, hai giả định nền tảng cho kịch bản nửa cuối năm - giá dầu hạ nhiệt và mặt bằng thuế quan ổn định - đều đang bị thử thách nghiêm trọng.

GDP quý 2/2026 tăng 8,39% svck, cao hơn mức 7,94% của quý 1, đưa tăng trưởng 6 tháng lên 8,18%. Công nghiệp – xây dựng tăng 10,51%, đóng góp 50,07% vào mức tăng chung.
Tích lũy tài sản lưu động tăng kỷ lục 173,21% svck - tương đương một đợt tích trữ nguyên liệu quy mô chưa từng có. Đây là động lực GDP, nhưng cũng là khoản "vay trước" từ tăng trưởng các quý sau.
Nhập khẩu tăng 33,4%, vượt xa xuất khẩu (+21,0%), tạo nhập siêu 16,7 tỷ USD trong 6 tháng - đảo chiều so với truyền thống xuất siêu của Việt Nam.
Nghịch lý điện tử: nhập khẩu nhóm điện tử – máy tính – linh kiện đạt hơn 109 tỷ USD (+83,8%) trong khi xuất khẩu cùng nhóm chỉ 71 tỷ USD (+49,1%). Chênh lệch ~38 tỷ USD là tín hiệu về một chu kỳ đầu tư năng lực sản xuất mới, hoặc một đợt tích trữ phòng thuế.
Thặng dư thương mại với Mỹ đạt 75,3 tỷ USD chỉ trong 6 tháng - nhịp chạy cả năm khoảng 150 tỷ USD. Đây là con số đẹp trên bảng cân đối, nhưng là rủi ro chính sách lớn nhất của nền kinh tế.
Ngày 24/7/2026 là mốc thuế quan quan trọng nhất năm: thuế bổ sung 10% theo Section 122 của Mỹ hết hiệu lực theo luật định. Phương án thay thế đang được cân nhắc là thuế Section 301 ở mức 12,5% áp cho 46 nền kinh tế, trong đó có Việt Nam.
Giá dầu đã đảo chiều dữ dội sau ngày 20/7. Brent từ đáy 4 tháng quanh 71,6 USD/thùng (2/7) đã bật lên vùng 94 USD/thùng (22/7) - mức cao nhất 6 tuần, tăng hơn 22% chỉ trong một tháng. Giả định "giá dầu bình quân 82–85 USD/thùng" làm nền cho dự báo CPI 4,3–4,5% đang chịu sức ép.
Lạm phát 6T26 bình quân 4,38%, lạm phát lõi 4,12% - cao nhất 5 năm. Giá trong nước đã phản ứng: xăng E5 tăng 1.426 đồng/lít từ 1/7, tiếp tục tăng trong kỳ điều hành 16/7.
Ngân sách bội thu 419,1 nghìn tỷ đồng với tỷ lệ thu đạt 62,0% kế hoạch năm nhưng chi chỉ 36,4%. Để hoàn thành kế hoạch đầu tư công 2026, tốc độ giải ngân nửa cuối năm phải đạt ~110 nghìn tỷ đồng/tháng, gần gấp đôi nhịp bình quân nửa đầu năm.
Khoảng cách tới mục tiêu là 3,7 điểm phần trăm. Nghị quyết 168/NQ-CP ngày 27/6/2026 đặt kịch bản tăng trưởng nửa cuối năm ở mức 11,9%, trong khi thực hiện 6 tháng mới đạt 8,18%.
Theo số liệu Cục Thống kê công bố ngày 3/7, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) quý 2/2026 ước tăng 8,39% so với cùng kỳ, nhỉnh hơn 0,25 điểm phần trăm so với quý 2/2025 và cao hơn rõ rệt mức 7,94% của quý 1. Tính chung nửa đầu năm, GDP tăng 8,18% - cao hơn 0,55 điểm phần trăm so với cùng kỳ 2025.
Điểm đáng chú ý không nằm ở con số tổng, mà ở sự dịch chuyển trọng số giữa các khu vực:
| Khu vực | Q2/2026 (% svck) | Đóng góp vào mức tăng | Q1/2026 | Q2/2025 |
|---|---|---|---|---|
| Nông, lâm nghiệp & thủy sản | 4,06% | 5,65% | ~3,7% | ~4,0% |
| Công nghiệp & xây dựng | 10,51% | 50,07% | 9,0% | 9,4% |
| Dịch vụ | 7,87% | 44,28% | 8,3% | 8,7% |
| Tổng GDP | 8,39% | 100% | 7,94% | 8,14% |
Nguồn: Cục Thống kê (Bộ Tài chính)
Đây là quý đầu tiên trong nhiều năm mà công nghiệp – xây dựng vượt mốc hai chữ số và giành lại vị thế đóng góp quá bán vào tăng trưởng. Trong nội bộ khu vực này, ba trụ đỡ rõ rệt:
Công nghiệp chế biến chế tạo tăng 10,6% svck, đóng góp 33,1% vào mức tăng chung - vẫn là xương sống.
Khai khoáng phục hồi mạnh lên 7,6% (cùng kỳ 2025 chỉ 9,8% và đã suy giảm nhiều quý trước đó), phản ánh nỗ lực gia tăng sản lượng trong nước khi giá năng lượng thế giới neo cao.
Sản xuất và phân phối điện tăng 12,2%, so với 6,7% của quý 2/2025 - vừa là kết quả của mùa nắng nóng, vừa phản ánh nhu cầu điện công nghiệp thực sự tăng.
Xây dựng tăng 10,3%, hưởng lợi trực tiếp từ giải ngân đầu tư công và các dự án hạ tầng trọng điểm.
Khu vực dịch vụ tăng 7,87% trong quý 2, thấp hơn cả quý 1/2026 (8,3%) lẫn quý 2/2025 (8,7%). Nguyên nhân dễ thấy là lạm phát bào mòn sức mua hộ gia đình. Nhưng có một cấu phần kỹ thuật đáng lưu ý mà phần lớn bản tin thị trường bỏ qua:
Phân ngành Hoạt động của Đảng Cộng sản, tổ chức chính trị – xã hội ghi nhận giá trị gia tăng giảm 9,7% svck, do nền so sánh quý 2/2025 ở mức cao đột biến liên quan đến quá trình tinh gọn bộ máy. Riêng yếu tố này đã kéo giảm khoảng 0,2 điểm phần trăm tốc độ tăng GDP chung và 0,4 điểm phần trăm tốc độ tăng của khu vực dịch vụ.
Ý nghĩa với nhà phân tích: nếu loại trừ hiệu ứng nền kỹ thuật này, GDP quý 2/2026 tương đương khoảng 8,6% - và tốc độ tăng dịch vụ "sạch" gần 8,3%. Đây là hiệu ứng một lần, sẽ tự triệt tiêu từ quý 3/2026 khi nền so sánh trở lại bình thường. Nói cách khác, một phần dư địa tăng tốc của nửa cuối năm đến từ số học, không phải từ nỗ lực chính sách. Đây là chi tiết cần đưa vào mô hình khi đánh giá tính khả thi của mục tiêu 11,9% nửa cuối năm.
Đây là phần quan trọng nhất - và cũng dễ bị đọc sai nhất - của bức tranh 6 tháng.
| Cấu phần GDP theo phương pháp sử dụng | 6T2026 (% svck) |
|---|---|
| Tiêu dùng cuối cùng | +8,15% |
| - trong đó tiêu dùng hộ gia đình | +9,48% (Q2: +9,94%) |
| - trong đó tiêu dùng Nhà nước | −0,05% (Q2: −10,42%) |
| Tích lũy tài sản | +15,20% (Q2: +20,4%) |
| - trong đó tích lũy tài sản lưu động | +173,21% |
| Xuất khẩu hàng hóa & dịch vụ (tính vào GDP) | +20,18% |
| Nhập khẩu hàng hóa & dịch vụ (tính vào GDP) | +26,44% |
Nguồn: Cục Thống kê
Con số 173,21% của tích lũy tài sản lưu động là điểm bất thường lớn nhất trong toàn bộ dữ liệu nửa đầu năm. Nó phản ánh việc doanh nghiệp - chủ yếu khối FDI - nhập khẩu nguyên liệu, linh phụ kiện với khối lượng khổng lồ để phục vụ chu kỳ sản xuất giao hàng kỳ sau.
Có ba cách đọc, và cả ba đều có hàm ý thị trường:
Cách đọc lạc quan: Đây là chỉ báo sớm cho sản lượng công nghiệp và xuất khẩu quý 3–4. Doanh nghiệp không tích trữ nguyên liệu nếu không có đơn hàng. Chỉ số PMI với sản lượng tăng tháng thứ 14 liên tiếp ủng hộ cách đọc này.
Cách đọc thận trọng: Tích lũy tồn kho là cấu phần biến động nhất của GDP và có tính hoàn nguyên. Khi doanh nghiệp chuyển sang tiêu thụ tồn kho thay vì nhập mới - điều mà dữ liệu PMI tháng 6 đã bắt đầu cho thấy khi tồn kho hàng mua giảm mạnh nhất trong một năm - cấu phần này sẽ chuyển từ đóng góp dương sang âm. Phần "vay trước" của tăng trưởng nửa đầu năm sẽ phải trả lại ở đâu đó.
Cách đọc chiến lược: Một phần đợt tích trữ là hành vi phòng vệ trước bất định thuế quan. Doanh nghiệp đẩy nhanh nhập khẩu đầu vào và giao hàng để đón đầu các mốc chính sách của Mỹ. Nếu đúng, thì quy mô của nó - 173% - chính là thước đo mức độ lo ngại của khu vực sản xuất về môi trường thương mại nửa cuối năm.
Đồng thời, cần lưu ý một điểm hạch toán: nhập khẩu tăng 26,44% (tính vào GDP) vượt trội xuất khẩu tăng 20,18%, nghĩa là đóng góp ròng của khu vực ngoại thương vào tăng trưởng GDP 6T26 là âm. Toàn bộ mức tăng 8,18% được gánh bởi tiêu dùng và tích lũy tài sản trong nước. Đây là một thay đổi cấu trúc quan trọng so với mô hình tăng trưởng dựa vào xuất siêu của Việt Nam trong thập kỷ qua.
Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) lũy kế 6 tháng tăng 10,8% svck, mức cao nhất của nửa đầu năm trong 5 năm gần đây. Riêng tháng 6, IIP tăng 3,5% so với tháng trước và 12,7% so với cùng kỳ.
| Nhóm ngành | T6/2026 (% svck) | Lũy kế 6T26 (% svck) | Lũy kế 6T25 |
|---|---|---|---|
| Toàn ngành công nghiệp | 12,7% | 10,8% | 9,2% |
| Khai khoáng | 8,8% | 5,8% | −3,0% |
| CN chế biến, chế tạo | 12,6% | 11,4% | 11,1% |
| Sản xuất & phân phối điện | 16,6% | 9,6% | 4,5% |
| Cung cấp nước, xử lý rác thải | 8,7% | 8,9% | 11,3% |
Nguồn: Cục Thống kê
Chế biến chế tạo đóng góp 8,9 điểm phần trăm trong tổng mức tăng 10,8% - nghĩa là hơn 80% động lực tăng trưởng công nghiệp đến từ một khu vực duy nhất. Đây vừa là sức mạnh, vừa là điểm tập trung rủi ro: bất kỳ cú sốc nào với đơn hàng xuất khẩu của khối chế biến chế tạo đều truyền dẫn gần như trực tiếp vào GDP.
Dữ liệu sản phẩm công nghiệp lũy kế 6T26 cho thấy sự phân tách rõ rệt giữa nhóm phục vụ cầu nội địa và nhóm phục vụ xuất khẩu:
Nhóm gắn với đầu tư hạ tầng và tiêu dùng nội địa - bùng nổ:
Xe máy: +32,9%
Ô tô: +26,9%
Thép cán: +23,3%
Thép thanh, thép góc: +13,0%
Xi măng: +10,8%
Nhóm phục vụ xuất khẩu công nghệ - đi ngang hoặc giảm:
Điện thoại di động: +0,7%
Linh kiện điện thoại: −3,3%
Ti vi: −3,5%
Nhóm dệt may – da giày - chững lại:
Quần áo mặc thường: +5,7%
Vải dệt: +1,0%
Giày dép da: −5,7%
Bức tranh này nói lên điều gì? Rằng động lực sản xuất nửa đầu năm 2026 mang tính nội sinh nhiều hơn ngoại sinh. Thép, xi măng, ô tô, xe máy là hàm số của đầu tư công, tín dụng và chính sách hỗ trợ tiêu dùng trong nước (ưu đãi lệ phí trước bạ). Trong khi đó, nhóm điện tử tiêu dùng cuối - vốn là "mặt tiền" xuất khẩu của Việt Nam - đang chịu nền so sánh cao từ giai đoạn chạy thuế nửa đầu 2025 và chưa cho thấy động lực mới.
Đây là một lập luận ủng hộ cho nhận định: tăng trưởng công nghiệp Việt Nam năm 2026 phụ thuộc vào chính sách tài khóa trong nước nhiều hơn bất kỳ năm nào trong một thập kỷ qua.
Chỉ số PMI sản xuất Việt Nam tháng 6/2026 đạt 51,8 điểm theo S&P Global - giảm nhẹ từ mức đỉnh 3 tháng 52,8 của tháng 5 nhưng duy trì trên ngưỡng 50 tháng thứ 12 liên tiếp, dẫn đầu khu vực ASEAN.
Chỉ số tổng là tích cực. Nhưng bốn cấu phần bên dưới kể một câu chuyện phức tạp hơn:
| Cấu phần | Diễn biến T6/2026 | Hàm ý |
|---|---|---|
| Đơn hàng mới | Tăng tháng thứ 2 liên tiếp, nhờ cầu thực thay vì tích trữ | Tích cực, nhưng đơn hàng xuất khẩu tăng chậm hơn đơn hàng nội địa |
| Sản lượng | Tăng tháng thứ 14 liên tiếp, tốc độ nhanh nhất từ tháng 2/2026 | Mạnh nhất trong các cấu phần |
| Chi phí đầu vào | Vẫn tăng nhưng tốc độ thấp nhất từ đầu năm; giá đầu ra tăng chậm nhất 6 tháng | Áp lực chi phí có dấu hiệu tạo đỉnh - dữ liệu tính đến trước cú tăng giá dầu giữa tháng 7 |
| Tồn kho hàng mua | Giảm mạnh nhất trong một năm | Doanh nghiệp dùng tồn kho sẵn có thay vì nhập mới |
| Việc làm | Giảm tháng thứ 4 liên tiếp dù sản lượng và đơn hàng đều tăng | Tín hiệu thận trọng đáng chú ý nhất |
Cấu phần lao động là điểm cần theo dõi sát. Việc doanh nghiệp tăng sản lượng nhưng liên tục cắt giảm lao động trong bốn tháng liền cho thấy: hoặc họ đang nâng năng suất/tự động hóa, hoặc họ không tin đợt tăng đơn hàng hiện tại là bền vững. Trong bối cảnh bất định thuế quan, giả thuyết thứ hai không thể loại trừ.
Đối chiếu với khảo sát niềm tin kinh doanh của EuroCham quý 2/2026 (công bố 15/7): Chỉ số BCI đạt 79,7 điểm, tăng 7 điểm so với quý trước, mức cao nhất gần 7 năm và chỉ thấp hơn kỷ lục 80 điểm cuối 2025. Gần 2/3 doanh nghiệp châu Âu được khảo sát cho biết điều kiện kinh doanh cải thiện trong giai đoạn tháng 4–6, khoảng 70% kỳ vọng quý 3 tiếp tục thuận lợi. Hơn một nửa coi Việt Nam là thị trường chiến lược cốt lõi, 18% xem đây là thị trường tăng trưởng lớn.
Tuy nhiên, cùng khảo sát chỉ ra rào cản lớn nhất vẫn là quy định và thủ tục hành chính - hơn một nửa số doanh nghiệp phản hồi nêu sự chậm trễ về quy định, thực thi chính sách không nhất quán và quản lý thuế thiếu minh bạch là trở ngại chính cho việc mở rộng dài hạn. Đây là khoảng cách giữa niềm tin và cam kết vốn thực chất mà Việt Nam cần thu hẹp.
| Chỉ tiêu | 6T2026 | % svck |
|---|---|---|
| Tổng kim ngạch XNK | ~549,7 tỷ USD | +27,1% |
| Xuất khẩu | ~266,5 tỷ USD | +21,0% |
| Nhập khẩu | ~283,2 tỷ USD | +33,4% |
| Cán cân thương mại | −16,7 tỷ USD | Đảo chiều từ xuất siêu |
| Tỷ trọng FDI trong xuất khẩu | ~80% | - |
| Tỷ trọng FDI trong nhập khẩu | ~72% | - |
Nguồn: Cục Hải quan, Cục Thống kê
Lưu ý kỹ thuật cho người đọc số liệu: trong các bản tin và báo cáo lưu hành nửa cuối tháng 7 xuất hiện hai con số kim ngạch 6 tháng khác nhau - khoảng 549,7 tỷ USD và khoảng 594,7 tỷ USD. Đối chiếu với dữ liệu quý (quý 1 khoảng 250 tỷ USD, quý 2 khoảng 300 tỷ USD với mức tăng 19,8% so với quý trước), mốc ~550 tỷ USD nhất quán hơn về mặt số học. Chênh lệch 45 tỷ USD giữa hai con số là đáng kể khi tính toán tỷ trọng thương mại/GDP, nên nhà đầu tư cần xác định rõ nguồn khi so sánh các báo cáo.
Tháng 6/2026 là tháng có tín hiệu tích cực rõ nhất về cấu trúc:
Tổng kim ngạch: 104,2 tỷ USD (+4,8% so với tháng trước, +36,3% svck)
Xuất khẩu: 50,8 tỷ USD (+8,1% so với tháng trước, +28,1% svck)
Nhập khẩu: 53,4 tỷ USD (+1,9% so với tháng trước, +45,2% svck)
Nhập siêu: 2,64 tỷ USD, thu hẹp mạnh từ mức 5,41 tỷ USD của tháng 5
Điểm quan trọng: lần đầu tiên trong nhiều tháng, tốc độ tăng theo tháng của xuất khẩu vượt nhập khẩu. Nhập khẩu của khối FDI gần như đi ngang so với tháng 5 (39,2 tỷ USD, chỉ +0,01% so với tháng trước dù vẫn +50,4% svck), cho thấy chu kỳ tích lũy nguyên liệu đã hoàn tất về cơ bản. Đây là bằng chứng ủng hộ luận điểm rằng đợt tích trữ khổng lồ nửa đầu năm sẽ chuyển hóa thành sản lượng xuất khẩu trong quý 3.
Đồng thời, khu vực doanh nghiệp trong nước ghi nhận bước ngoặt: xuất khẩu tăng 15,0% svck trong tháng 6, sau nhiều tháng liên tiếp tăng trưởng âm (−4,7% tháng 5/2026; −6,1% tháng 6/2025). Sự phục hồi của khối nội địa là tín hiệu chất lượng, vì nó cho thấy hiệu ứng thuế quan từ năm 2025 đang dần được hấp thụ.
Đây là dữ liệu đáng suy ngẫm nhất trong toàn bộ bức tranh thương mại.
| Nhóm điện tử, máy tính & linh kiện | Giá trị 6T26 | % svck |
|---|---|---|
| Xuất khẩu | 71,0 tỷ USD | +49,1% |
| - trong đó sang Mỹ | >28 tỷ USD (~40%) | - |
| Nhập khẩu | >109,0 tỷ USD | +83,8% |
| - trong đó từ Trung Quốc | >39 tỷ USD (~36%) | - |
| - trong đó từ Hàn Quốc | 29 tỷ USD (27%) | - |
| Chênh lệch | ~−38 tỷ USD | - |
Một quốc gia gia công điện tử thông thường sẽ có kim ngạch nhập khẩu linh kiện thấp hơn hoặc xấp xỉ kim ngạch xuất khẩu thành phẩm, vì giá trị gia tăng nằm ở khâu lắp ráp. Việc nhập khẩu vượt xuất khẩu tới 38 tỷ USD chỉ trong 6 tháng chỉ có thể được giải thích bằng một trong ba khả năng - hoặc tổ hợp của cả ba:
Chu kỳ đầu tư năng lực sản xuất mới. Các dự án bán dẫn và điện tử quy mô lớn đang nhập thiết bị, vật tư giai đoạn xây dựng. Điều này phù hợp với dữ liệu FDI đăng ký mới kỷ lục và các dự án như nhà máy chip bán dẫn Samsung tại Thái Nguyên (1,5 tỷ USD) hay LG Innotek mở rộng nhà máy nền bán dẫn.
Tích trữ đầu vào phòng ngừa rủi ro thuế quan và gián đoạn chuỗi cung ứng - nhất quán với mức tăng 173,21% của tích lũy tài sản lưu động.
Độ trễ hạch toán giữa nhập khẩu đầu vào và xuất khẩu thành phẩm - hàng nhập trong quý 2 sẽ được xuất trong quý 3–4.
Nếu giả thuyết (1) và (3) chiếm ưu thế, thì đây là tín hiệu rất tích cực cho xuất khẩu nửa cuối năm và cho vị thế Việt Nam trong chuỗi giá trị bán dẫn. Nếu giả thuyết (2) chiếm ưu thế, thì một phần đáng kể của "tăng trưởng nhập khẩu" hiện tại sẽ không chuyển hóa thành xuất khẩu, và cán cân thương mại sẽ chỉ tự điều chỉnh sau khi tồn kho được giải phóng.
Chỉ báo để phân biệt: tỷ trọng xuất khẩu điện tử trong tổng kim ngạch tháng 8–10/2026. Nếu tăng tốc trên 50% svck, giả thuyết tích cực được xác nhận.
| Thị trường | Cán cân thương mại 6T26 | % svck |
|---|---|---|
| Hoa Kỳ | Xuất siêu ~75,3 tỷ USD (XK 86,5 tỷ USD) | +21,3% |
| EU | Xuất siêu ~31,8 tỷ USD | +16,3% |
| Đông Nam Á | Xuất siêu ~22,6 tỷ USD | +19,0% |
| Trung Quốc | Nhập siêu (tháng 6: −14,8 tỷ USD) | NK +46,5% |
| Hàn Quốc | Nhập siêu (tháng 6: −5,3 tỷ USD) | - |
Nguồn: Cục Hải quan
Đây là dữ liệu cần được đọc trong bối cảnh chính trị – thương mại, không chỉ kinh tế. Với thặng dư 75,3 tỷ USD chỉ trong 6 tháng, nhịp chạy cả năm 2026 của Việt Nam hướng tới mốc khoảng 150 tỷ USD - một quy mô đưa Việt Nam vào nhóm các đối tác có thặng dư song phương lớn nhất với Hoa Kỳ.
Đồng thời, cấu trúc "nhập siêu lớn từ Trung Quốc - xuất siêu lớn sang Mỹ" tiếp tục là điểm nhạy cảm nhất trong hồ sơ thương mại của Việt Nam, vì nó là dữ kiện trung tâm trong mọi cuộc thảo luận về trung chuyển hàng hóa và quy tắc xuất xứ. Riêng tháng 6, nhập siêu từ Trung Quốc (14,8 tỷ USD) gần bằng xuất siêu sang Mỹ (14,9 tỷ USD) - một sự đối xứng mà các nhà đàm phán thương mại chắc chắn không bỏ qua.
Đây là phần mà phần lớn các bản cập nhật vĩ mô nửa đầu năm chưa xử lý đầy đủ, bởi diễn biến pháp lý tại Mỹ thay đổi theo tuần. Với nhà đầu tư và doanh nghiệp xuất khẩu, đây là biến số quan trọng nhất trong 90 ngày tới.
| Mốc thời gian | Diễn biến |
|---|---|
| 20/02/2026 | Tòa án Tối cao Hoa Kỳ ra phán quyết (6-3) trong vụ Learning Resources, Inc. v. Trump, xác định IEEPA không trao thẩm quyền áp thuế cho Tổng thống. Toàn bộ nền tảng pháp lý của thuế đối ứng bị vô hiệu. |
| 24/02/2026 | Chính quyền Mỹ kích hoạt Section 122 của Đạo luật Thương mại 1974 - mức phụ thu nhập khẩu 10% áp gần như toàn cầu. Điều khoản này giới hạn trần 15% và thời hạn tối đa 150 ngày. |
| 11–13/03/2026 | USTR khởi xướng hai cuộc điều tra Section 301: (i) dư thừa năng lực sản xuất cơ cấu tại 16 nền kinh tế (có Việt Nam); (ii) thực thi cấm nhập khẩu hàng hóa sản xuất bằng lao động cưỡng bức tại hơn 60 nền kinh tế. |
| 30/04/2026 | Việt Nam bị đưa vào danh sách "Priority Foreign Country" trong Báo cáo Special 301 về sở hữu trí tuệ. |
| 29/05/2026 | USTR khởi xướng cuộc điều tra Section 301 thứ ba nhắm vào Việt Nam, về bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ. |
| 02/06/2026 | USTR công bố kết luận điều tra lao động cưỡng bức, đề xuất thuế bổ sung 10% (15 đối tác) hoặc 12,5% (46 đối tác, gồm Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan). |
| 06–09/07/2026 | Kết thúc nhận ý kiến công chúng; tổ chức điều trần. |
| 15/07/2026 | USTR ban hành hành động cuối cùng riêng cho Brazil: thuế 25%, hiệu lực 22/07/2026. |
| 20/07/2026 | Hạn hoàn tất hai cuộc điều tra Section 301 diện rộng. |
| 24/07/2026 | Section 122 hết hiệu lực theo luật định. Tổng thống không có thẩm quyền gia hạn đơn phương; Quốc hội chưa thông qua luật gia hạn. |
Tính đến thời điểm bài viết này (23/7/2026), quyết định cuối cùng đối với nhóm 46 nền kinh tế chưa được công bố chính thức. Các nguồn tin thị trường cho biết USTR dự kiến công bố trong tuần này để tránh khoảng trống pháp lý giữa hai công cụ.
Đây là điểm khiến hồ sơ Việt Nam khác biệt so với các đối tác thương mại khác:
Điều tra lao động cưỡng bức (từ 13/3/2026) - đề xuất 12,5%.
Điều tra dư thừa năng lực sản xuất (từ 11/3/2026) - kết quả chưa công bố.
Điều tra sở hữu trí tuệ riêng cho Việt Nam (từ 29/5/2026) - chưa có kết luận.
Mỗi cuộc điều tra Section 301 có thể tạo ra một lớp thuế độc lập, và thuế Mỹ có tính cộng dồn: thuế Section 301 cộng lên thuế MFN, cộng lên Section 232 (thép/nhôm 50%, ô tô 25%, đồng 50%, bán dẫn 25%), và các biện pháp chống bán phá giá/chống trợ cấp chồng tiếp lên trên. Đây là điểm mà mô hình định giá của nhiều doanh nghiệp xuất khẩu chưa phản ánh đúng.
Nhiều báo cáo và bản tin vẫn nhắc tới mức thuế đối ứng 20% với hàng Việt Nam. Con số này bắt nguồn từ khuôn khổ thỏa thuận thương mại Việt – Mỹ công bố tháng 10/2025, trong đó thuế đối ứng theo IEEPA với hàng hóa có xuất xứ Việt Nam được giữ ở mức 20%.
Tuy nhiên, cơ sở pháp lý của mức 20% đó đã bị vô hiệu từ tháng 2/2026. Trên thực tế, mức phụ thu mà hàng Việt Nam đang chịu hiện nay là 10% theo Section 122 - thấp hơn đáng kể. Sự nhầm lẫn này có hệ quả thực tế: nếu doanh nghiệp và nhà đầu tư neo kỳ vọng vào mốc 20%, họ sẽ đọc mức 12,5% đề xuất là "tin tốt", trong khi so với thực trạng hiện hành (10%), đó là một mức tăng ròng 2,5 điểm phần trăm và, quan trọng hơn, là một mức thuế không có thời hạn kết thúc.
| Kịch bản | Nội dung | Xác suất định tính | Tác động với hàng Việt Nam |
|---|---|---|---|
| A - Thay thế liền mạch | Section 301 12,5% có hiệu lực đúng hoặc gần ngày 24/7 | Cao nhất | Chi phí thuế tăng nhẹ 2,5 đpt so với hiện tại, nhưng mất tính tạm thời: không có trần luật định, không có ngày hết hạn. Biên lợi nhuận xuất khẩu chịu áp lực bền vững hơn. |
| B - Khoảng trống pháp lý | Section 122 hết hiệu lực trước khi Section 301 được ban hành | Trung bình | Xuất hiện "cửa sổ thuế thấp": hàng nhập khẩu tạm thời quay về mức MFN (thường một chữ số thấp) cộng Section 232 hiện hành. Có thể tạo đợt tăng đột biến kim ngạch ngắn hạn do doanh nghiệp đẩy nhanh thông quan. |
| C - Chồng lớp | Section 301 lao động cưỡng bức + kết quả điều tra dư thừa năng lực + hành động riêng về SHTT | Thấp hơn nhưng không thể loại trừ | Mức thuế hiệu dụng có thể vượt xa 12,5%. Đây là kịch bản rủi ro đuôi cần theo dõi, đặc biệt với các nhóm hàng có tỷ trọng nhập đầu vào từ Trung Quốc cao. |
Một chi tiết kỹ thuật quan trọng cho doanh nghiệp xuất khẩu: thuế suất được xác định theo ngày hàng được đăng ký nhập khẩu (date of entry), không phải ngày xếp hàng lên tàu. Trong tuần chuyển giao, chênh lệch vài ngày trong lịch thông quan có thể tạo khác biệt hàng triệu USD chi phí trên một lô hàng lớn.
Đáng chú ý, một cơ chế được đề xuất trong khuôn khổ Section 301 lao động cưỡng bức là cơ chế dệt may: cho phép một khối lượng hàng dệt may nhất định từ một số đối tác được hưởng thuế suất thấp hơn, gắn với khối lượng mua bông và nguyên liệu dệt do Mỹ sản xuất. Nếu được thiết kế và áp dụng, đây là cơ hội trực tiếp cho ngành dệt may Việt Nam để giảm gánh nặng thuế bằng cách tái cấu trúc nguồn nguyên liệu - một hướng đi mà một số doanh nghiệp trong ngành đã bắt đầu triển khai từ năm 2025.
Điều đáng chú ý là doanh nghiệp xuất khẩu chưa hành xử như thể đây là rủi ro cấp bách. Tốc độ đơn hàng tháng 6 tiếp tục cải thiện mạnh, xuất khẩu tăng 8,1% so với tháng trước. Cách giải thích hợp lý nhất: thị trường đã định giá kịch bản 12,5% và coi đó là mức chấp nhận được so với các mốc "đe dọa" 46% từng được nêu trong năm 2025.
Rủi ro thực sự không nằm ở con số 12,5%, mà ở tính vô thời hạn của công cụ Section 301 và khả năng chồng lớp từ hai cuộc điều tra còn lại. Một mức thuế 12,5% vĩnh viễn có tác động khác hoàn toàn với một mức thuế 20% được kỳ vọng sẽ đàm phán giảm - vì nó thay đổi phép tính đầu tư dài hạn của các tập đoàn đang cân nhắc đặt nhà máy tại Việt Nam.
| Chỉ tiêu bán lẻ | 6T2026 | 6T2025 |
|---|---|---|
| Tổng mức bán lẻ hàng hóa & doanh thu dịch vụ | 3.889,5 nghìn tỷ đồng | - |
| Tăng trưởng danh nghĩa | +12,9% | +10,1% |
| Bán lẻ hàng hóa | +12,5% | - |
| - trong đó xăng dầu | +15,3% | - |
| Tăng trưởng thực (loại trừ yếu tố giá) | +7,3% | +7,4% |
| Khoảng cách danh nghĩa – thực | ~5,6 đpt | ~2,7 đpt |
Nguồn: Cục Thống kê
Đây là bảng số liệu quan trọng nhất để hiểu tình trạng thực của hộ gia đình Việt Nam năm 2026. Tăng trưởng danh nghĩa tăng tốc mạnh (từ 10,1% lên 12,9%), nhưng tăng trưởng thực đi ngang, thậm chí giảm nhẹ (7,4% → 7,3%).
Điều đó có nghĩa là gần như toàn bộ phần tăng thêm của doanh thu bán lẻ đến từ giá, không phải từ lượng. Deflator hàm ý của bán lẻ khoảng 5,2% - cao hơn cả CPI bình quân 4,38%, cho thấy rổ hàng hóa và dịch vụ mà hộ gia đình thực sự chi tiêu đang tăng giá nhanh hơn rổ CPI tổng thể.
Điểm sáng: mức tăng thực 7,3% của 6 tháng đã cải thiện so với 6,1% của 5 tháng đầu năm, cho thấy tháng 6 có sự phục hồi thực sự về lượng - nhất quán với việc giá xăng giảm mạnh 10,05% trong tháng.
Riêng tháng 6, tổng mức bán lẻ tăng 1,1% so với tháng trước và 14,8% svck, với hai nhóm dẫn dắt: dịch vụ lưu trú, ăn uống (+19,7%) và du lịch lữ hành (+24,9%) - đúng chu kỳ cao điểm du lịch hè.
Lũy kế 6T26, tổng lượng khách quốc tế đạt 12,2 triệu lượt (+14,9% svck) - con số tuyệt đối kỷ lục nhưng tốc độ tăng chậm lại rõ rệt so với mức 20,7% của cùng kỳ 2025.
Điều thú vị nằm ở cơ cấu:
| Thị trường nguồn | 6T2026 | % svck |
|---|---|---|
| Trung Quốc | 2,7 triệu lượt | −1,1% |
| Hàn Quốc | 2,2 triệu lượt | −2,1% |
| Nga | - | +185,5% |
| Châu Âu | - | +56,1% |
| Ấn Độ | - | +45,6% |
| Châu Á (tổng) | ~74% tổng lượng khách | +12,0% |
Hai thị trường truyền thống lớn nhất đều giảm nhẹ, chủ yếu do chi phí hàng không tăng khi giá nhiên liệu bay neo cao khiến các hãng điều chỉnh giá vé. Toàn bộ mức tăng ròng đến từ đa dạng hóa: Nga, châu Âu, Ấn Độ.
Về mặt kinh tế, đây là diễn biến hai mặt. Tích cực: giảm phụ thuộc vào một vài thị trường nguồn là cải thiện cấu trúc rủi ro cho ngành du lịch. Thận trọng: khách Trung Quốc và Hàn Quốc có đặc điểm chi tiêu và độ dài lưu trú khác với khách Nga hay Ấn Độ, nên tăng trưởng lượt khách 14,9% không tự động chuyển thành tăng trưởng doanh thu du lịch tương ứng. Nhà đầu tư trong nhóm ngành hàng không, khách sạn, bán lẻ du lịch cần theo dõi chỉ tiêu doanh thu bình quân trên khách thay vì chỉ nhìn tổng lượt.
Trong 5 tháng đầu năm 2026, chỉ số giá vàng tăng 65,97% theo số liệu thống kê. Đây là mức tăng phi thường và là chỉ báo gián tiếp về tâm lý phòng thủ của hộ gia đình trong môi trường lạm phát 4%+ và bất định địa chính trị.
Hàm ý vĩ mô: khi một phần tiết kiệm hộ gia đình chuyển vào vàng thay vì tiền gửi ngân hàng hoặc tiêu dùng, nó (i) làm chậm tốc độ huy động vốn của hệ thống ngân hàng - nhất quán với chênh lệch tín dụng/huy động 2,3 điểm phần trăm; (ii) làm giảm hiệu lực truyền dẫn của chính sách tiền tệ nới lỏng; và (iii) tạo thêm áp lực cầu ngoại tệ ở thị trường không chính thức. Đây là biến số cần theo dõi khi đánh giá dư địa hạ lãi suất nửa cuối năm.
| Đơn vị: nghìn tỷ đồng | 6T2026 | % kế hoạch năm | % svck |
|---|---|---|---|
| Thu ngân sách | 1.568,2 | 62,0% | +17,7% |
| - Thu nội địa | 1.352,7 | 61,5% | +16,5% |
| - Thu từ dầu thô | 31,1 | 72,4% | +26,1% |
| - Thu từ hoạt động XNK | 183,6 | 66,0% | +22,9% |
| Chi ngân sách | 1.149,1 | 36,4% | +0,1% |
| - Chi thường xuyên | 730,0 | 40,4% | −5,9% |
| - Chi đầu tư phát triển | 357,1 | 31,9% | +13,9% |
| - Chi trả nợ lãi | 60,2 | 50,0% | +8,1% |
| Bội thu NSNN | 419,1 | - | +127,3% |
Nguồn: Bộ Tài chính
Con số này cần được nhìn thẳng: trong sáu tháng đầu của năm mà Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng 10%, chính sách tài khóa trên thực tế đang có tác động thắt chặt. Ngân sách thu được 62% kế hoạch năm nhưng chỉ chi ra 36,4%. Khoản chênh lệch 419,1 nghìn tỷ đồng - tương đương khoảng 2,7–2,8% GDP danh nghĩa ước tính của năm 2026 - là nguồn lực đã được rút khỏi nền kinh tế và nằm tại Kho bạc Nhà nước thay vì lưu thông.
Điều này cũng giải thích một phần hiện tượng thanh khoản căng thẳng của hệ thống ngân hàng: tiền gửi Kho bạc là một cấu phần quan trọng của nguồn vốn ngân hàng, và biến động của nó tác động trực tiếp lên tỷ lệ LDR.
Tin tích cực là xu hướng đã bắt đầu đảo chiều trong tháng 6:
Tổng chi tháng 6 đạt 292,3 nghìn tỷ đồng (+58,2% so với tháng trước)
Ngân sách tháng 6 thâm hụt 87,3 nghìn tỷ đồng - đảo chiều từ mức thặng dư 29,2 nghìn tỷ của tháng 5
Bội thu lũy kế thu hẹp từ 496 nghìn tỷ (5T26) xuống 419,1 nghìn tỷ (6T26)
Đây là tín hiệu quan trọng: dòng tiền tài khóa đã bắt đầu chảy ngược trở lại nền kinh tế. Với nhà đầu tư, thâm hụt ngân sách tháng trong nửa cuối năm 2026 nên được đọc là chỉ báo tích cực về thanh khoản và tăng trưởng, không phải chỉ báo tiêu cực về kỷ luật tài khóa - đặc biệt khi nợ công vẫn duy trì quanh 34% GDP, thấp hơn nhiều so với trần cho phép.
Đây là phép tính quyết định tính khả thi của kịch bản tăng trưởng nửa cuối năm.
| Chỉ tiêu giải ngân đầu tư công 2026 | Giá trị |
|---|---|
| Kế hoạch Thủ tướng giao | ~1.013 nghìn tỷ đồng |
| Giải ngân lũy kế đến 26/6/2026 | ~356,9 nghìn tỷ đồng (+33,1% svck) |
| Tỷ lệ hoàn thành | ~35,5% |
| Bình quân/tháng nửa đầu năm | ~59,5 nghìn tỷ đồng |
| Giải ngân riêng tháng 6 | ~137,6 nghìn tỷ đồng (1,8 lần tháng 5: ~75,1 nghìn tỷ) |
| Còn lại phải giải ngân | ~656 nghìn tỷ đồng |
| Bình quân/tháng cần đạt (6 tháng cuối) | ~109–110 nghìn tỷ đồng |
| Hệ số so với nhịp nửa đầu năm | ~1,8–2,0 lần |
Nguồn: Bộ Tài chính; tính toán trong bài
Cần lưu ý phân biệt hai chuỗi số liệu thường bị nhầm lẫn: vốn đầu tư thực hiện từ NSNN theo Cục Thống kê đạt 333,9 nghìn tỷ đồng (37,5% kế hoạch năm, +12,1% svck), trong khi giải ngân đầu tư công theo Bộ Tài chính đạt 356,9 nghìn tỷ đồng (35,5% kế hoạch Thủ tướng giao, +33,1% svck). Việc trộn lẫn hai chuỗi sẽ dẫn tới sai lệch đáng kể khi tính hệ số tăng tốc cần thiết.
Yêu cầu tăng tốc gần gấp đôi là thách thức lớn nhưng không phải bất khả thi, vì việc giải ngân nguồn vốn đầu tư công tại Việt Nam có tính mùa vụ rất mạnh, dồn vào quý 4 và đặc biệt tháng 12 do yếu tố quyết toán. Bản thân tháng 6/2026 đã cho thấy năng lực tăng tốc: 137,6 nghìn tỷ đồng, gấp 1,8 lần tháng 5 - tức là hệ thống hoàn toàn có thể vận hành ở nhịp cần thiết khi được thúc đẩy.
Ba yếu tố thể chế có thể thay đổi hàm sản xuất của đầu tư công trong 2026–2027:
Kế hoạch đầu tư công trung hạn 2026–2030 đã được thông qua tháng 4/2026, tạo khung pháp lý ổn định cho danh mục dự án.
Dự án Luật Ngân sách Nhà nước sửa đổi, hợp nhất với Luật Đầu tư công, dự kiến được xem xét tại phiên họp bất thường tháng 8 và thông qua tại kỳ họp chính thức tháng 10/2026. Nếu được thông qua, đây là thay đổi cấu trúc quan trọng: chấm dứt tình trạng chồng chéo giữa khâu lập ngân sách và phân bổ đầu tư công, đẩy mạnh phân cấp – phân quyền.
Cơ chế riêng cho trái phiếu hạ tầng (PPP) đang trong quá trình lấy ý kiến, nhằm khơi thông dòng vốn tư nhân vào hạ tầng.
Ngoài ra, việc duy trì 5 tổ công tác của Thủ tướng để giám sát và tháo gỡ vướng mắc tại chỗ, cùng nỗ lực xử lý nút thắt giải phóng mặt bằng và nguồn cung vật liệu, là các yếu tố hỗ trợ định tính.
| Chỉ tiêu FDI | 6T2026 | % svck |
|---|---|---|
| Vốn đăng ký (tổng) | 34,65 tỷ USD | +61,0% |
| - Đăng ký cấp mới | 17,4 tỷ USD (2.013 dự án) | +87,2% |
| Vốn thực hiện | 13,03 tỷ USD | +11,2% |
| Tỷ lệ thực hiện/đăng ký | ~37,6% | - |
| Riêng tháng 6 - đăng ký | 9,8 tỷ USD | +50% svtt; 3,1 lần svck |
| Riêng tháng 6 - thực hiện | ~3,3 tỷ USD | +39,6% svtt; +16,3% svck |
| Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài | 1,21 tỷ USD | 2,5 lần |
Nguồn: Cục Thống kê, Bộ Tài chính
Cả vốn đăng ký lẫn vốn thực hiện của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đều đạt mức cao nhất của nửa đầu năm trong 5 năm qua. Nhưng khoảng cách giữa hai con số cũng lớn nhất trong nhiều năm: vốn đăng ký tăng 61% trong khi vốn thực hiện chỉ tăng 11,2%.
Cách đọc đúng: vốn đăng ký là chỉ báo dẫn dắt (leading indicator) phản ánh niềm tin và ý định; vốn thực hiện là chỉ báo trễ (lagging indicator) phản ánh dòng tiền thực. Khoảng cách 61% – 11,2% cho thấy một khối lượng lớn cam kết đầu tư đã được ghi nhận nhưng chưa chuyển thành giải ngân. Đây là "kho đạn" cho tăng trưởng FDI thực hiện của 2027–2028, với điều kiện các dự án vượt qua được giai đoạn thủ tục và giải phóng mặt bằng.
| Quốc gia/vùng lãnh thổ | Vốn đăng ký 6T26 | Tỷ trọng |
|---|---|---|
| Singapore | ~9,1 tỷ USD (2,6 lần svck) | ~32% |
| Hàn Quốc | ~7,9 tỷ USD (2,8 lần svck) | ~28% |
| Nhật Bản, Trung Quốc, Hồng Kông, Hà Lan, Hoa Kỳ, Đài Loan | - | ~24% |
| Khác | - | ~16% |
Các dự án tiêu biểu định hình dòng vốn nửa đầu năm:
Cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ - liên danh Cảng Sài Gòn và Terminal Investment Limited (thuộc hãng tàu MSC), vốn đầu tư 5 tỷ USD. Đây là một trong những dự án FDI quy mô lớn nhất từ trước tới nay tại Việt Nam và có ý nghĩa chiến lược: nếu vận hành thành công, nó thay đổi vị thế của Việt Nam trong mạng lưới trung chuyển container khu vực.
Nhà máy Nhiệt điện LNG Quỳnh Lập (Nghệ An) - hơn 2,2 tỷ USD, gắn với bài toán an ninh năng lượng và nhu cầu điện công nghiệp.
Nhà máy chip bán dẫn của Samsung tại Thái Nguyên - 1,5 tỷ USD.
LG Innotek mở rộng nhà máy nền bán dẫn - dự kiến khởi công tháng 7/2026, hoàn thành tháng 5/2027.
Điểm chung: hạ tầng logistics, năng lượng và bán dẫn - ba lĩnh vực có vòng đời đầu tư dài và ít nhạy cảm với biến động thuế quan ngắn hạn hơn so với gia công lắp ráp truyền thống. Đây là dấu hiệu định tính cho thấy chất lượng dòng vốn FDI đang thay đổi.
Nghị quyết 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài - thường được gọi là chính sách "FDI thế hệ mới" - là khung định hướng cho giai đoạn tới. Hiệu quả thực tế của nghị quyết này sẽ chỉ đo được qua tỷ lệ chuyển hóa từ vốn đăng ký sang vốn thực hiện trong 12–18 tháng tới.
| Nhóm hàng | Tỷ trọng | T6/26 svtt | T6/26 svck | 6T26 svck |
|---|---|---|---|---|
| CPI tổng | 100% | −0,39% | 4,69% | 4,38% |
| Hàng ăn & dịch vụ ăn uống | 34% | −0,07% | 4,89% | 4,79% |
| - Ăn uống ngoài gia đình | 9% | +0,20% | 8,28% | 6,85% |
| - Lương thực | 4% | −0,78% | 1,07% | 0,68% |
| - Thực phẩm | 21% | −0,05% | 4,21% | 4,70% |
| Nhà ở, điện nước, chất đốt & VLXD | 19% | +0,46% | 7,17% | 6,72% |
| Giao thông | 10% | −4,85% | 5,29% | 5,23% |
| Giáo dục | 6% | +0,06% | 3,63% | 3,50% |
| May mặc | 6% | −0,09% | 2,19% | 1,96% |
| Đồ dùng gia đình | 7% | +0,17% | 3,17% | 2,63% |
| Lạm phát cơ bản | - | +0,14% | 4,50% | 4,12% |
Nguồn: Cục Thống kê
Ba quan sát quan trọng:
Thứ nhất, lạm phát tháng 6 hạ nhiệt hoàn toàn nhờ một nhóm duy nhất. CPI giảm 0,39% so với tháng trước, gần như toàn bộ đến từ nhóm giao thông (−4,85%) sau khi giá xăng trong nước giảm 10,05%. Nếu loại trừ nhóm giao thông, CPI tháng 6 vẫn tăng nhẹ. Đây là điểm then chốt: sự hạ nhiệt lạm phát tháng 6 không phải là kết quả của việc áp lực giá cơ bản suy giảm, mà là kết quả trực tiếp của một cú giảm giá dầu.
Thứ hai, lạm phát lõi 4,12% (bình quân 6T) và 4,50% (tháng 6 svck) cho thấy áp lực giá đã lan rộng. Nhóm nhà ở – điện nước – vật liệu xây dựng tăng 6,72%, đóng góp 1,53 điểm phần trăm vào CPI chung - trở thành nguồn lạm phát lớn nhất, vượt qua nhóm năng lượng. Đây là hệ quả trực tiếp của chính bùng nổ đầu tư hạ tầng: giá vật liệu xây dựng tăng vì cầu xây dựng tăng.
Đây là một vòng phản hồi mà nhà hoạch định chính sách cần cân nhắc: đẩy mạnh đầu tư công để đạt mục tiêu tăng trưởng sẽ tự động tạo thêm áp lực lên nhóm CPI có tỷ trọng 19%.
Thứ ba, nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 8,28% svck - mức cao nhất kể từ 2023. Đây là cấu phần "lạm phát dịch vụ" phản ánh chi phí nhân công và vận chuyển, và thường có tính dai dẳng cao hơn lạm phát hàng hóa.
Đây là điểm mà mọi dự báo lạm phát nửa cuối năm 2026 cần được xem xét lại.
Kịch bản cơ sở phổ biến trên thị trường - CPI bình quân cả năm 2026 về vùng 4,3–4,5% - dựa trên giả định giá dầu Brent bình quân năm trong vùng 82–85 USD/thùng. Diễn biến thực tế của thị trường năng lượng trong ba tuần qua:
| Mốc | Giá Brent | Ghi chú |
|---|---|---|
| Quý 2/2026 | Giảm ~45 USD/thùng | Mức giảm theo quý mạnh nhất kể từ khủng hoảng tài chính 2008 |
| 02/07/2026 | ~71,6 USD/thùng | Đáy 4 tháng |
| Bình quân tháng 6/2026 | ~84,5 USD/thùng | Theo dữ liệu IMF/FRED |
| 16/07/2026 | ~85,0 USD/thùng | Căng thẳng Mỹ – Iran tái leo thang |
| 17/07/2026 | ~88,1 USD/thùng | Tuần tăng ~16%, tuần tăng thứ 3 liên tiếp |
| 22/07/2026 | ~94,1 USD/thùng | +22% trong một tháng; cao nhất 6 tuần |
Nguyên nhân: thỏa thuận ngừng bắn 60 ngày giữa Mỹ và Iran đổ vỡ, các cuộc không kích tiếp diễn nhiều đêm liên tiếp, rủi ro gián đoạn vận chuyển qua eo biển Hormuz - tuyến hàng hải vận chuyển khoảng 20% lượng dầu và LNG giao dịch toàn cầu mỗi ngày. Bổ sung thêm là mối đe dọa với tuyến Biển Đỏ – Bab el-Mandeb (khoảng 7,4 triệu thùng/ngày, tương đương ~7% sản lượng dầu toàn cầu) và các cuộc tấn công vào cơ sở hạ tầng đường ống ở Biển Đen.
Truyền dẫn vào Việt Nam đã diễn ra, không phải giả thuyết:
1/7/2026: giá xăng E5 RON92 tăng 1.426 đồng/lít; E10 RON95-III tăng 1.287 đồng/lít
16/7/2026: tiếp tục điều chỉnh tăng, E10 RON95-III tăng thêm 550 đồng/lít, đưa giá về mức 20.550 đồng/lít; dầu diesel 23.329 đồng/lít
Liên Bộ Công Thương – Tài chính đã phải chi Quỹ Bình ổn giá 1.500 đồng/lít cho dầu diesel (nguồn tạm ứng từ ngân sách nhà nước) để kiềm chế mức tăng
Thuế bảo vệ môi trường với xăng dầu tiếp tục được giữ ở mức 0 đồng/lít đến hết 30/9/2026 theo Nghị quyết 34/2026/NQ-CP
Hàm ý phân tích: Nhóm giao thông (tỷ trọng 10% trong rổ CPI) đã đóng góp toàn bộ mức giảm CPI tháng 6. Nếu giá xăng dầu tăng trở lại trong tháng 7–8, hiệu ứng này sẽ đảo chiều với cùng độ lớn. Trong kịch bản Brent duy trì quanh 90–95 USD/thùng đến hết quý 3, bình quân chỉ số CPI cả năm 2026 có khả năng cao vượt ngưỡng mục tiêu 4,5%.
Quan trọng hơn với thị trường: các công cụ chính sách để kiềm chế đã gần cạn. Thuế bảo vệ môi trường đã ở mức 0 đồng, Quỹ Bình ổn đang phải sử dụng nguồn tạm ứng ngân sách. Nếu giá dầu tiếp tục leo thang, dư địa hành chính để làm phẳng đường truyền dẫn vào CPI là rất hạn chế.
| Kịch bản giá dầu Brent bình quân 2026 | CPI bình quân 2026 (ước tính) | Hàm ý chính sách tiền tệ |
|---|---|---|
| 78–82 USD/thùng | 4,2–4,4% | Có dư địa nới lỏng nhẹ từ quý 4 |
| 82–85 USD/thùng (kịch bản cơ sở phổ biến) | 4,3–4,5% | Giữ nguyên, chờ tín hiệu |
| 88–95 USD/thùng | 4,6–5,0% | Dư địa hạ lãi suất gần như không còn; ưu tiên ổn định tỷ giá |
| >100 USD/thùng (rủi ro đuôi Hormuz) | >5,0% | Có thể phải cân nhắc thắt chặt; mục tiêu tăng trưởng 10% khó khả thi |
Bảng tính minh họa dựa trên độ nhạy lịch sử của CPI Việt Nam với giá năng lượng; không phải dự báo chính thức.
Đây là ràng buộc nội tại quan trọng nhất với chính sách tiền tệ nửa cuối năm.
| Chỉ tiêu tiền tệ | Số liệu 6T2026 | Cùng kỳ 2025 |
|---|---|---|
| Tăng trưởng tín dụng (đến 26/6) | +7,41% | +8,3% |
| Tăng trưởng huy động (đến 26/6) | +5,02% | +6,11% |
| Chênh lệch tín dụng – huy động | 2,39 đpt | ~2,2 đpt |
| Dư nợ tín dụng toàn hệ thống (đến 29/6) | ~20,03 triệu tỷ đồng (+7,73% so cuối 2025) | - |
| Tỷ lệ LDR toàn hệ thống | 112–117% | - |
| Lãi suất tái cấp vốn | 4,5% | 4,5% |
| Lãi suất tái chiết khấu | 3,0% | 3,0% |
| Lãi suất OMO | 4,5% (tăng từ 4,0% tháng 12/2025) | 4,0% |
Nguồn: Cục Thống kê, Ngân hàng Nhà nước
Theo đại diện Vụ Chính sách tiền tệ NHNN, trong khoảng 5 năm gần đây tốc độ tăng trưởng huy động luôn thấp hơn tăng trưởng tín dụng khoảng 3–4 điểm phần trăm. Hệ quả tích lũy là tỷ lệ dư nợ trên tiền gửi (LDR) của nhiều ngân hàng duy trì ở vùng 112–117% - nghĩa là cứ huy động được 100 đồng, hệ thống đang cho vay khoảng 112–117 đồng và phải bù đắp phần thiếu hụt bằng các nguồn vốn khác (giấy tờ có giá kỳ hạn dài, vốn liên ngân hàng, tiền gửi Kho bạc).
Hệ quả trực tiếp: mặt bằng lãi suất huy động đã tăng đáng kể. Lãi suất kỳ hạn 6–12 tháng tăng khoảng 120 điểm cơ bản tính đến cuối quý 1/2026, và một số ngân hàng đã triển khai chương trình ưu đãi tiết kiệm trực tuyến lên tới 8%/năm cho kỳ hạn 6 tháng. Giấy tờ có giá kỳ hạn dài có lãi suất cao hơn tiền gửi thị trường 1 từ 80–150 điểm cơ bản, tạo áp lực trực tiếp lên chi phí vốn và biên lãi ròng (NIM) của các ngân hàng.
Với mục tiêu tăng trưởng tín dụng cả năm khoảng 17%, nửa cuối năm cần thêm khoảng 9,5 điểm phần trăm tăng trưởng tín dụng - tương đương hơn 1,7 triệu tỷ đồng dư nợ mới. Câu hỏi không phải là cầu tín dụng có đủ hay không, mà là nguồn vốn ở đâu khi huy động chỉ tăng 5,02%.
Ba nguồn có thể lấp khoảng trống:
Dòng tiền tài khóa - 419 nghìn tỷ đồng bội thu quay trở lại nền kinh tế qua giải ngân đầu tư công (đây là lý do khiến thâm hụt ngân sách tháng 6 là tin tốt cho ngành ngân hàng).
Dòng vốn FDI giải ngân - 13 tỷ USD trong nửa đầu năm, kỳ vọng tăng tốc.
Điều chỉnh kỹ thuật - tỷ lệ tiền gửi Kho bạc Nhà nước có kỳ hạn trong công thức tính LDR đã được nâng từ 0% (áp dụng từ đầu 2026) lên 20% từ 15/5/2026.
| Chỉ tiêu tỷ giá | Giá trị (tháng 7/2026) |
|---|---|
| Tỷ giá trung tâm (17/7) | 25.254 VND/USD |
| Biên độ ±5% | 23.991 – 26.517 VND/USD |
| Tỷ giá liên ngân hàng | ~26.310 VND/USD |
| Vị thế so với trần biên độ | ~99,2% trần |
| DXY đầu năm (2/1) | 97,06 |
| DXY đỉnh cuối tháng 6 | 101,61 (cao nhất 1 năm) |
| DXY ngày 15/7 | ~100,63 (+2,7% từ đầu năm) |
Đây là một trong những dữ liệu quan trọng nhất mà nhà giao dịch cần nắm: tỷ giá liên ngân hàng đang giao dịch ở mức tương đương khoảng 99,2% trần biên độ cho phép. Nói cách khác, VND gần như đã "chạm trần" trong khuôn khổ hiện hành. Bất kỳ mức mất giá thêm nào cũng đòi hỏi NHNN phải nâng tỷ giá trung tâm - một động thái mang tính tín hiệu chính sách rõ ràng chứ không còn là biến động thị trường thuần túy.
Dự báo phổ biến trên thị trường cho USD/VND cuối 2026 quanh vùng 26.700–26.800 hàm ý rằng tỷ giá trung tâm sẽ phải được điều chỉnh tăng thêm trong nửa cuối năm.
Các bệ đỡ nội tại vẫn đáng kể: FDI giải ngân mạnh, mặt bằng lãi suất VND cao tạo chênh lệch lãi suất có lợi, và NHNN còn công cụ OMO, bán ngoại tệ kỳ hạn, hoán đổi ngoại tệ. Nhưng có hai điểm yếu cấu trúc cần lưu ý:
Dự trữ ngoại hối tương đương chỉ khoảng 1,9–2,2 tháng nhập khẩu theo các ước tính thị trường - thấp hơn đáng kể ngưỡng an toàn thông lệ 3 tháng. Với kim ngạch nhập khẩu tăng 33,4%, mẫu số của tỷ lệ này đang phình ra nhanh hơn tử số.
Cán cân vãng lai đang thu hẹp mạnh do nhập siêu hàng hóa 16,7 tỷ USD - nguồn cung ngoại tệ tự nhiên của nền kinh tế yếu đi rõ rệt so với các năm xuất siêu lớn.
Cuộc họp chính sách tiếp theo của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ diễn ra ngày 29/7/2026. Đáng chú ý, thảo luận thị trường trong tháng 7 đã chuyển từ kỳ vọng cắt giảm sang khả năng Ngân hàng Trung ương Mỹ (Fed) phải tăng lãi suất, do cú sốc giá năng lượng chưa truyền dẫn hết vào lạm phát và áp lực giá liên quan đến làn sóng đầu tư AI.
Bối cảnh kinh tế Mỹ nửa đầu năm 2026 cho tín hiệu phân hóa:
| Chỉ báo kinh tế Mỹ | Số liệu gần nhất |
|---|---|
| GDP quý 1/2026 | +2,1% svck |
| GDP quý 2/2026 (công bố 30/7) | Dự báo đồng thuận 2,1–2,4% |
| ISM sản xuất tháng 6 | 53,3 điểm (giảm từ 54,0), tháng thứ 6 trên ngưỡng 50 |
| Doanh số bán lẻ tháng 6 | +0,2% svtt (chủ yếu do giá xăng giảm), nhóm kiểm soát vẫn tăng khá |
| Việc làm phi nông nghiệp tháng 6 | +57 nghìn (thấp hơn nhiều kỳ vọng +115 nghìn) |
| Tỷ lệ thất nghiệp | 4,2% (giảm chủ yếu do tỷ lệ tham gia lao động xuống thấp) |
| Dự báo tăng trưởng Mỹ 2026 (IMF, WEO tháng 7) | 2,3% - dẫn đầu nhóm phát triển (bình quân ~1,7%) |
Trong khi đó, IMF hạ dự báo tăng trưởng toàn cầu 2026 xuống 3,1%; Liên Hợp Quốc 2,5%; Fitch Ratings 2,4%; OECD 2,8%; World Bank 2,5%.
Kịch bản rủi ro cho Việt Nam: nếu Fed chuyển sang giọng điệu diều hâu vào ngày 29/7 trong khi NHNN cần nới lỏng để hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng 10%, chênh lệch lãi suất VND–USD sẽ thu hẹp đúng vào thời điểm cán cân thương mại đang nhập siêu và VND đã sát trần biên độ. Đây là tổ hợp bất lợi nhất có thể xảy ra và cần được theo dõi sát trong 1–2 tuần tới.
| Chỉ tiêu | Giá trị |
|---|---|
| Tăng trưởng thực hiện 6T2026 | 8,18% |
| Cần đạt trong H2/2026 để cả năm đạt 10% | 11,7–11,8% |
| Kịch bản Chính phủ đặt ra (Nghị quyết 168/NQ-CP ngày 27/6/2026) | 11,9% |
| Khoảng cách so với quỹ đạo hiện tại | ~3,7 điểm phần trăm |
Để hình dung độ lớn của yêu cầu này: mức tăng trưởng 11,9% trong một nửa năm là con số mà Việt Nam chưa từng đạt được trong bất kỳ giai đoạn nào của ba thập kỷ gần đây ngoài các quý phục hồi kỹ thuật sau đáy COVID-19.
Tuy nhiên, có ba yếu tố cần đưa vào phép tính trước khi kết luận:
Hiệu ứng nền kỹ thuật đảo chiều. Yếu tố tinh gọn bộ máy đã kéo giảm ~0,2 đpt GDP quý 2. Từ quý 3, hiệu ứng này biến mất và có thể đảo thành đóng góp dương nhẹ.
Chu kỳ giải ngân đầu tư công dồn vào quý 4. Nếu 656 nghìn tỷ đồng còn lại được giải ngân, tác động lan tỏa (multiplier) vào xây dựng, vật liệu, thép, xi măng là rất lớn.
Tồn kho nguyên liệu khổng lồ đã tích lũy sẽ chuyển hóa thành sản lượng và xuất khẩu - tăng trưởng công nghiệp quý 3 có nền tảng vật chất rõ ràng.
Ngược lại, ba yếu tố cản trở:
Giá dầu đảo chiều làm thu hẹp dư địa chính sách tiền tệ và bào mòn sức mua thực.
Bất định thuế quan sau ngày 24/7 có thể làm chậm quyết định đơn hàng quý 4.
Thanh khoản ngân hàng căng hạn chế khả năng bơm tín dụng ở quy mô cần thiết.
| Kịch bản | GDP 2026 | Điều kiện tiên quyết | Hàm ý thị trường |
|---|---|---|---|
| Thận trọng | 8,0–8,3% | Brent >95 USD/thùng kéo dài; Section 301 chồng lớp vượt 12,5%; giải ngân đầu tư công đạt | CPI vượt 4,5%; áp lực tỷ giá gia tăng; nhóm xuất khẩu chịu áp lực biên lợi nhuận |
| Cơ sở | 8,5–8,7% | Brent 82–88 USD/thùng; thuế Section 301 ở mức 12,5%; giải ngân đầu tư công đạt 85–95% kế hoạch | CPI 4,3–4,6%; NHNN giữ nguyên chính sách, nới lỏng nhẹ từ quý 4; nhóm hạ tầng – vật liệu – ngân hàng hưởng lợi |
| Tích cực | 9,0–9,2% | Giá năng lượng hạ nhiệt về vùng 78–82 USD; đàm phán thương mại Việt – Mỹ có đột phá; giải ngân đầu tư công đạt 100% kế hoạch; dòng vốn ngoại quay lại sau nâng hạng FTSE | CPI về 4,0–4,3%; dư địa nới lỏng tiền tệ mở ra; định giá thị trường được tái đánh giá |
Kịch bản cơ sở và tích cực tham chiếu dự báo của các tổ chức phân tích trong nước; kịch bản thận trọng bổ sung dựa trên diễn biến giá năng lượng và pháp lý thương mại cập nhật đến 23/7/2026.
Đánh giá của chúng tôi: mục tiêu 10% cho cả năm 2026 hiện có xác suất thấp, không phải vì nền kinh tế yếu - 8,18% là kết quả rất mạnh theo bất kỳ chuẩn so sánh quốc tế nào - mà vì phép toán số học đòi hỏi một mức tăng tốc chưa có tiền lệ trong điều kiện giá năng lượng và thuế quan đều đang chuyển động bất lợi. Vùng 8,5–8,9% là kết quả hợp lý nhất, và bản thân nó vẫn đưa Việt Nam vào nhóm các nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới năm 2026.
Phần này mang tính phân tích thị trường, không cấu thành khuyến nghị đầu tư.
| Chỉ tiêu thị trường | Giá trị |
|---|---|
| VN-Index đóng cửa tháng 6/2026 | 1.860,01 điểm (−0,19% so với tháng 5) |
| Hiệu suất 6 tháng đầu năm 2026 | +4,23% |
| VN-Index phiên 20/7/2026 | ~1.743 điểm (mất hơn 100 điểm từ đầu tháng 7) |
| Thanh khoản phiên 17/7 | ~11.600 tỷ đồng (−40% so với phiên trước, thấp nhất khoảng 1 tháng) |
| Khối ngoại bán ròng tháng 6/2026 | ~18,96 nghìn tỷ đồng |
| Khối ngoại bán ròng lũy kế 6T2026 | ~81,8 nghìn tỷ đồng |
Đây là nghịch lý đáng chú ý nhất: GDP tăng 8,18% - mức mạnh nhất nhiều năm - nhưng VN-Index chỉ tăng 4,23% trong nửa đầu năm và mất hơn 100 điểm trong ba tuần đầu tháng 7.
Ba cách giải thích:
Chi phí vốn tăng. Lãi suất huy động 6–12 tháng tăng ~120 điểm cơ bản, một số ngân hàng chào 8%/năm. Khi kênh tiền gửi mang lại lợi suất phi rủi ro 7–8%, phần bù rủi ro yêu cầu của cổ phiếu tăng theo và định giá bị nén.
Áp lực dòng vốn toàn cầu. Mức bán ròng gần 82 nghìn tỷ đồng phản ánh bối cảnh phân bổ vốn trên thị trường tài chính toàn cầu - DXY tăng 2,7% từ đầu năm, lợi suất trái phiếu Mỹ neo cao - hơn là đánh giá riêng về triển vọng Việt Nam.
Thị trường định giá rủi ro chính sách thuế quan trước khi nó xuất hiện trong báo cáo kết quả kinh doanh.
Chất xúc tác nửa cuối năm - nâng hạng FTSE Russell:
| Mốc | Nội dung |
|---|---|
| 07/10/2025 | FTSE Russell công bố nâng hạng Việt Nam từ Cận biên lên Mới nổi Thứ cấp |
| 07–08/04/2026 | FTSE Russell xác nhận giữ nguyên lộ trình; ghi nhận Thông tư 08/2026/TT-BTC thiết lập khuôn khổ tiếp cận qua công ty chứng khoán toàn cầu và cơ chế không yêu cầu ký quỹ trước giao dịch |
| 21/09/2026 | Ngày hiệu lực - giai đoạn 1, tỷ trọng 10% |
| 03/2027 | Giai đoạn 2 - thêm 20% (lũy kế 30%) |
| 06/2027 | Giai đoạn 3 - thêm 35% (lũy kế 65%) |
| 09/2027 | Giai đoạn 4 - hoàn tất 100% |
Ước tính dòng vốn thụ động giải ngân trong giai đoạn đầu khoảng 742 triệu USD theo một số nhóm phân tích trong nước - một con số khiêm tốn so với mức bán ròng gần 82 nghìn tỷ đồng (~3,1 tỷ USD) của khối ngoại trong nửa đầu năm. Nói cách khác, tiến trình nâng hạng thị trường chứng khoán giai đoạn đầu không đủ để đảo ngược xu hướng bán ròng; ý nghĩa của nó mang tính cấu trúc và dài hạn hơn là xúc tác giá ngắn hạn.
Về MSCI, tại kỳ rà soát tháng 6/2026 Việt Nam vẫn chưa được đưa vào danh sách theo dõi nâng hạng. Nghị quyết 10-NQ/TW đặt mục tiêu phấn đấu được MSCI nâng hạng trước năm 2030.
Lợi suất trái phiếu chính phủ đã nhích lên: kỳ hạn 5 năm khoảng 4,19% (từ 4,12%), kỳ hạn 10 năm khoảng 4,39% (từ 4,32%). Khối lượng phát hành TPCP quý 2/2026 đạt khoảng 102.460 tỷ đồng.
Với bối cảnh (i) nhu cầu vốn cho đầu tư công tăng vọt nửa cuối năm, (ii) lạm phát chưa hạ nhiệt bền vững, và (iii) thanh khoản ngân hàng căng, xu hướng lợi suất TPCP nhiều khả năng nghiêng về phía tăng nhẹ trong quý 3, trước khi có thể ổn định vào quý 4 nếu dòng tiền tài khóa được đẩy mạnh ra nền kinh tế.
USD/VND: đang giao dịch sát trần biên độ. Các tín hiệu cần theo dõi theo thứ tự ưu tiên: (1) quyết định của Fed ngày 29/7; (2) diễn biến tỷ giá trung tâm do NHNN công bố hằng ngày - bất kỳ đợt điều chỉnh tăng nhanh nào cũng là tín hiệu chính sách; (3) quy mô can thiệp qua bán ngoại tệ kỳ hạn và hoán đổi; (4) cán cân thương mại hằng tháng.
Dầu thô (Brent, WTI): biến số vĩ mô có tác động trực tiếp nhất lên Việt Nam trong 90 ngày tới, vì nó tác động đồng thời lên CPI, cán cân thương mại (Việt Nam là nước nhập khẩu năng lượng ròng), chi phí doanh nghiệp và dư địa chính sách tiền tệ. Ngưỡng tâm lý cần theo dõi: 95 USD/thùng (Brent) - vùng mà chi phí truyền dẫn vào CPI trở nên khó kiềm chế bằng công cụ hành chính.
Vàng: với mức tăng chỉ số giá vàng gần 66% trong 5 tháng đầu năm, đây vừa là kênh trú ẩn được ưa chuộng, vừa là chỉ báo tâm lý phòng thủ của hộ gia đình. Biến động của giá vàng trong nước có tác động gián tiếp tới thanh khoản hệ thống ngân hàng.
| Nhóm ngành | Vị thế trong bối cảnh 6T26 | Biến số quyết định |
|---|---|---|
| Thép, xi măng, vật liệu xây dựng | Hưởng lợi trực tiếp (thép cán +23,3%, xi măng +10,8%) | Tốc độ giải ngân đầu tư công quý 3–4 |
| Xây dựng hạ tầng | Hưởng lợi (xây dựng +10,3% trong Q2) | Khối lượng ~656 nghìn tỷ đồng còn lại |
| Ngân hàng | Hai chiều: tín dụng tăng tốt nhưng NIM chịu áp lực từ chi phí vốn | LDR, dòng tiền Kho bạc, room tín dụng |
| Bán lẻ tiêu dùng | Danh nghĩa tốt, thực chững | Diễn biến CPI và giá xăng dầu |
| Điện tử, công nghệ xuất khẩu | Nền so sánh cao, sản lượng đi ngang | Kết quả Section 301; chu kỳ đơn hàng Q3 |
| Dệt may, da giày | Chững lại rõ (giày dép da −5,7%) | Cơ chế dệt may trong khuôn khổ Section 301 |
| Ô tô, xe máy | Bùng nổ (+26,9% và +32,9%) | Tính bền vững của chính sách ưu đãi lệ phí trước bạ |
| Dầu khí, khai thác | Hưởng lợi từ giá năng lượng cao (khai khoáng +7,6% trong Q2) | Giá Brent, chính sách tự chủ năng lượng |
| Hàng không, du lịch | Lượng khách tăng nhưng chi phí nhiên liệu bào mòn biên | Giá nhiên liệu bay; cơ cấu nguồn khách |
| Thời điểm | Sự kiện | Vì sao quan trọng |
|---|---|---|
| 24/07/2026 | Section 122 hết hiệu lực; quyết định Section 301 với 46 nền kinh tế | Xác định mặt bằng thuế quan cho hàng Việt Nam trong phần còn lại của năm |
| 29/07/2026 | Quyết định lãi suất của Fed | Quyết định chênh lệch lãi suất VND–USD và áp lực tỷ giá |
| 30/07/2026 | Công bố GDP quý 2/2026 của Mỹ | Đánh giá sức cầu của thị trường xuất khẩu lớn nhất |
| Đầu 08/2026 | Số liệu CPI tháng 7 của Việt Nam | Phép thử đầu tiên cho tác động của đợt tăng giá xăng dầu 1/7 và 16/7 |
| Tháng 8/2026 | Phiên họp bất thường Quốc hội - xem xét Luật NSNN sửa đổi (hợp nhất Luật Đầu tư công) | Nền tảng thể chế cho hiệu quả đầu tư công 2027+ |
| 21/09/2026 | Ngày hiệu lực nâng hạng FTSE Russell - giai đoạn 1 (tỷ trọng 10%) | Dòng vốn thụ động giai đoạn đầu, ước ~742 triệu USD |
| Đầu 10/2026 | Số liệu GDP quý 3/2026 | Kiểm chứng khả năng đạt kịch bản 11,9% của Nghị quyết 168 |
| Tháng 10/2026 | Kỳ họp Quốc hội - thông qua Luật NSNN sửa đổi | - |
| ~11/2026 | Mốc hết hạn của các thỏa thuận đình chiến thương mại Mỹ – Trung | Tác động gián tiếp lên vị thế trung chuyển của Việt Nam |
| Tháng 12/2026 | Cao điểm quyết toán và giải ngân đầu tư công | Quyết định kết quả tăng trưởng cả năm |
Rủi ro bên ngoài
Leo thang xung đột Mỹ – Iran và rủi ro eo biển Hormuz. Kịch bản gián đoạn đồng thời tại Hormuz và Bab el-Mandeb sẽ tạo cú sốc nguồn cung năng lượng nghiêm trọng, đẩy Brent vượt xa vùng 100 USD/thùng.
Thuế quan chồng lớp. Ba mặt trận Section 301 nhắm vào Việt Nam có thể tạo mức thuế hiệu dụng cao hơn nhiều so với mức 12,5% đang được thảo luận.
Fed chuyển hướng diều hâu trong bối cảnh Việt Nam cần nới lỏng - rủi ro chính sách ngược chiều.
Tăng trưởng toàn cầu suy giảm. Hầu hết các tổ chức lớn đã hạ dự báo 2026: IMF 3,1%, OECD 2,8%, WB 2,5%, UN 2,5%, Fitch 2,4%.
Rủi ro nội tại
Lạm phát vượt mục tiêu 4,5% nếu giá năng lượng duy trì ở vùng cao, đặc biệt khi các công cụ hành chính (thuế bảo vệ môi trường 0 đồng, Quỹ Bình ổn) đã gần cạn dư địa.
Thanh khoản ngân hàng và LDR cao hạn chế khả năng mở rộng tín dụng ở quy mô cần thiết cho mục tiêu tăng trưởng.
Dự trữ ngoại hối mỏng tương đương khoảng 1,9–2,2 tháng nhập khẩu, trong khi cán cân vãng lai thu hẹp mạnh.
Rủi ro đảo chiều tồn kho. Mức tích lũy tài sản lưu động +173,21% sẽ chuyển từ đóng góp dương sang âm khi chu kỳ tồn kho đảo chiều.
Rào cản thủ tục hành chính - điểm nghẽn được hơn một nửa doanh nghiệp châu Âu nêu trong khảo sát EuroCham quý 2 - cản trở việc chuyển hóa 34,6 tỷ USD vốn đăng ký thành vốn thực hiện.
Rủi ro pha loãng và chi phí vốn cao trên thị trường chứng khoán, khi lãi suất tiền gửi 7–8%/năm cạnh tranh trực tiếp với kênh cổ phiếu.
GDP quý 2/2026 tăng 8,39% so với cùng kỳ, đưa tăng trưởng 6 tháng lên 8,18%. Động lực chính đến từ khu vực công nghiệp – xây dựng với mức tăng 10,51%, đóng góp 50,07% vào mức tăng chung. Trong đó, chế biến chế tạo tăng 10,6%, sản xuất và phân phối điện tăng 12,2%, xây dựng tăng 10,3% và khai khoáng phục hồi lên 7,6%. Khu vực dịch vụ tăng 7,87%, chậm lại so với quý 1 do sức mua bị bào mòn bởi lạm phát.
Nhập khẩu tăng 33,4% trong khi xuất khẩu chỉ tăng 21,0%. Nguyên nhân chính là làn sóng nhập khẩu nguyên liệu, linh kiện và tư liệu sản xuất phục vụ chu kỳ sản xuất kỳ sau - thể hiện qua mức tăng kỷ lục 173,21% của tích lũy tài sản lưu động và mức tăng 83,8% của nhập khẩu nhóm điện tử, máy tính, linh kiện. Một phần cũng đến từ nhập thiết bị cho các dự án đầu tư quy mô lớn, bao gồm dự án FDI.
Về mặt số học, để đạt 10% cả năm, nền kinh tế cần tăng trưởng 11,7–11,8% trong nửa cuối năm - Nghị quyết 168/NQ-CP đặt kịch bản 11,9%. So với quỹ đạo hiện tại là 8,18%, khoảng cách là khoảng 3,7 điểm phần trăm. Đây là mức tăng tốc chưa có tiền lệ ngoài các giai đoạn phục hồi kỹ thuật sau đáy. Kịch bản hợp lý nhất theo phân tích trong bài là vùng 8,5–8,9%, với kịch bản tích cực 9,0–9,2% nếu giá năng lượng hạ nhiệt và đàm phán thương mại Việt – Mỹ có tiến triển.
Sau khi Tòa án Tối cao Hoa Kỳ vô hiệu hóa thuế theo IEEPA vào tháng 2/2026, hàng Việt Nam đang chịu mức phụ thu 10% theo Section 122 - không phải mức 20% thường được trích dẫn từ khuôn khổ thỏa thuận tháng 10/2025. Section 122 hết hiệu lực ngày 24/7/2026 và phương án thay thế đang được cân nhắc là thuế Section 301 ở mức 12,5%. Cần lưu ý thuế Mỹ có tính cộng dồn: Section 301 cộng lên MFN, cộng lên Section 232, cộng lên các biện pháp chống bán phá giá/chống trợ cấp.
CPI bình quân 6 tháng đạt 4,38%, lạm phát lõi 4,12%. Câu trả lời phụ thuộc gần như hoàn toàn vào giá dầu. Kịch bản cơ sở phổ biến (Brent 82–85 USD/thùng) cho CPI cả năm 4,3–4,5%. Tuy nhiên, Brent đã tăng lên vùng 94 USD/thùng vào ngày 22/7 do căng thẳng Mỹ – Iran, và giá xăng trong nước đã tăng hai kỳ liên tiếp (1/7 và 16/7). Nếu mặt bằng này duy trì, khả năng CPI vượt 4,5% là đáng kể.
Bội thu 419,1 nghìn tỷ đồng nghĩa là nguồn lực đã được thu về nhưng chưa được đưa trở lại nền kinh tế - về bản chất, chính sách tài khóa đang có tác động thắt chặt trong nửa đầu năm. Với thu đạt 62% kế hoạch nhưng chi chỉ 36,4%, khoảng trống này tương đương khoảng 2,7–2,8% GDP. Tin tích cực là tháng 6 đã đảo chiều sang thâm hụt 87,3 nghìn tỷ đồng, cho thấy dòng tiền tài khóa bắt đầu chảy ra.
Tỷ giá liên ngân hàng đang ở khoảng 26.310 VND/USD, tương đương ~99,2% trần biên độ (26.517 tính từ tỷ giá trung tâm 25.254 ngày 17/7). Điều này nghĩa là VND gần như đã chạm trần trong khuôn khổ hiện hành, và mức mất giá thêm sẽ đòi hỏi NHNN nâng tỷ giá trung tâm. Các dự báo thị trường phổ biến đặt USD/VND cuối 2026 quanh 26.700–26.800. Biến số quyết định gần nhất là quyết định của Fed ngày 29/7.
Việt Nam được nâng từ Cận biên lên Mới nổi Thứ cấp với ngày hiệu lực 21/9/2026, triển khai qua 4 giai đoạn đến tháng 9/2027 (tỷ trọng 10% → 30% → 65% → 100%). Dòng vốn thụ động giai đoạn đầu ước khoảng 742 triệu USD - khiêm tốn so với mức bán ròng ~82 nghìn tỷ đồng của khối ngoại trong nửa đầu năm. Ý nghĩa lớn hơn nằm ở việc mở rộng nền tảng nhà đầu tư tổ chức dài hạn và cải thiện chuẩn mực thị trường.
Chênh lệch 5,6 điểm phần trăm phản ánh rằng phần lớn mức tăng doanh thu bán lẻ đến từ giá, không phải từ lượng hàng hóa và dịch vụ thực tế được tiêu thụ. Deflator hàm ý khoảng 5,2% - cao hơn cả CPI bình quân 4,38%, cho thấy rổ chi tiêu thực của hộ gia đình tăng giá nhanh hơn rổ CPI tổng thể. Đây là chỉ báo cho thấy sức mua thực của người tiêu dùng yếu hơn nhiều so với ấn tượng từ con số danh nghĩa.
Theo thứ tự ưu tiên: (1) giá dầu Brent - vì nó tác động đồng thời lên CPI, cán cân thương mại, chi phí doanh nghiệp và dư địa chính sách tiền tệ; (2) quyết định Section 301 của USTR và mức thuế cuối cùng áp dụng cho hàng Việt Nam; (3) tốc độ giải ngân đầu tư công hằng tháng so với mốc ~110 nghìn tỷ đồng cần thiết; (4) tỷ giá trung tâm do NHNN công bố; (5) chênh lệch tăng trưởng tín dụng – huy động và diễn biến LDR hệ thống.
Sáu tháng đầu năm 2026 để lại một bộ số liệu ấn tượng theo mọi chuẩn so sánh quốc tế: GDP tăng 8,18% khi tăng trưởng toàn cầu được dự báo quanh 2,5–3,1%; IIP cao nhất kể từ 2019; FDI đăng ký kỷ lục 34,6 tỷ USD; PMI dẫn đầu ASEAN; niềm tin doanh nghiệp châu Âu cao nhất gần bảy năm.
Nhưng bài toán của nửa cuối năm không còn là bài toán tăng trưởng có mạnh hay không. Đó là bài toán về ba ràng buộc đang siết lại cùng lúc:
Ràng buộc thứ nhất - lạm phát. CPI bình quân 4,38% chỉ cách mục tiêu 4,5% đúng 0,12 điểm phần trăm, trong khi lạm phát lõi 4,12% cho thấy áp lực giá đã lan ra ngoài nhóm năng lượng. Cú đảo chiều của Brent lên vùng 94 USD/thùng chỉ vài ngày sau khi các báo cáo nửa năm được công bố đã đặt dấu hỏi lên toàn bộ kịch bản "lạm phát hạ nhiệt tạo dư địa chính sách".
Ràng buộc thứ hai - thuế quan. Ngày 24/7/2026 kết thúc một chương và mở ra một chương khác trong quan hệ thương mại Việt – Mỹ. Điều đáng lo không phải là mức 12,5% - vốn thấp hơn nhiều so với những con số từng được nêu năm 2025 - mà là việc công cụ Section 301 không có trần luật định và không có ngày hết hạn. Thặng dư 75,3 tỷ USD trong sáu tháng với Mỹ là thành tích thương mại, đồng thời là biến số chính trị mà Việt Nam sẽ phải quản trị trong nhiều năm tới.
Ràng buộc thứ ba - nguồn vốn. Với LDR hệ thống ở vùng 112–117%, chênh lệch tín dụng – huy động 2,3 điểm phần trăm, dự trữ ngoại hối tương đương chưa tới hai tháng nhập khẩu và VND giao dịch sát trần biên độ, dư địa để chính sách tiền tệ hỗ trợ tăng trưởng đã hẹp hơn nhiều so với đầu năm. Chìa khóa vì thế nằm ở chính sách tài khóa: 419 nghìn tỷ đồng bội thu và ~656 nghìn tỷ đồng đầu tư công còn lại là công cụ mạnh nhất, ít bị ràng buộc nhất mà Việt Nam đang nắm giữ.
Đó cũng là lý do khiến chỉ số cần theo dõi sát nhất trong sáu tháng tới không phải là GDP hay CPI, mà là tốc độ giải ngân đầu tư công hằng tháng. Nếu con số này duy trì quanh ngưỡng 110 nghìn tỷ đồng - như tháng 6 đã chứng minh là khả thi - thì kịch bản tăng trưởng 8,7–9,0% hoàn toàn nằm trong tầm với, và tác động lan tỏa sẽ đồng thời giải quyết cả bài toán thanh khoản của hệ thống ngân hàng.
Nếu không, nền kinh tế vẫn sẽ tăng trưởng tốt - chỉ là bằng động lực của quán tính chứ không phải bằng chính sách.
Cục Thống kê (Bộ Tài chính) - Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội quý 2 và 6 tháng đầu năm 2026; số liệu CPI, IIP, bán lẻ, FDI, khách quốc tế
Cục Hải quan - Số liệu xuất nhập khẩu 6 tháng đầu năm 2026
Bộ Tài chính - Số liệu thu chi ngân sách và giải ngân đầu tư công
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - Số liệu tín dụng, huy động, tỷ giá trung tâm; họp báo ngành ngân hàng quý 2/2026
S&P Global - Chỉ số PMI sản xuất Việt Nam và ASEAN tháng 6/2026
EuroCham - Khảo sát Chỉ số Niềm tin Kinh doanh (BCI) quý 2/2026, công bố 15/7/2026
Văn phòng Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR) - Thông báo điều tra và đề xuất hành động Section 301 (2/6/2026); hành động cuối cùng với Brazil (15/7/2026)
IMF - World Economic Outlook tháng 7/2026
VNDIRECT Research - Báo cáo vĩ mô tháng 7/2026 (20/7/2026)
Dữ liệu thị trường năng lượng, ngoại hối và chứng khoán cập nhật đến ngày 22–23/7/2026