Đăng vào: 2026-06-03
Lãi suất ngân hàng hôm nay ghi nhận hai diễn biến trái chiều: một số ngân hàng điều chỉnh giảm lãi suất huy động, trong khi thị trường liên ngân hàng vừa trải qua nhịp tăng rất mạnh rồi hạ nhiệt nhanh. LPBank giảm lãi suất tiết kiệm online từ 0,05 đến 0,2 điểm phần trăm ở các kỳ hạn 6-25 tháng, đưa kỳ hạn 12 tháng về 6,9%/năm và kỳ hạn 24-25 tháng về 7%/năm.
Sự chú ý không chỉ nằm ở ngân hàng có lãi suất cao nhất. Lãi suất liên ngân hàng qua đêm đã tăng lên 10,66%/năm trong ngày 1/6, trước khi giảm về 6,60%/năm trong phiên 2/6 sau các nghiệp vụ điều tiết thanh khoản. Diễn biến này ảnh hưởng trực tiếp đến người gửi tiền, người vay, doanh nghiệp cần vốn lưu động và nhà giao dịch theo dõi tỷ giá USD/VND.

Nhóm lãi suất online cao nhất ở kỳ hạn 6-12 tháng đang tập trung tại MBV, PGBank, VIB, LPBank, Bac A Bank và OCB. MBV niêm yết 7%/năm ở các kỳ hạn 6, 9, 12 và 18 tháng trong bảng lãi suất online ngày 3/6. PGBank đạt 7%/năm ở kỳ hạn 12 tháng, còn LPBank sau điều chỉnh vẫn giữ 6,8%-7%/năm ở các kỳ hạn từ 6 đến 25 tháng.
LPBank là điểm nhấn giảm lãi suất trong ngày. Ngân hàng này giảm lãi suất online kỳ hạn 6-11 tháng xuống 6,8%/năm, 12 tháng xuống 6,9%/năm, 13-18 tháng xuống 6,95%/năm và 24-25 tháng xuống 7%/năm. Lãi suất tại quầy cũng giảm ở kỳ hạn ngắn 1-5 tháng.
Big 4 đang cạnh tranh mạnh hơn trên kênh online. Agribank, BIDV, Vietcombank và VietinBank cùng được ghi nhận ở mức 4,75%/năm cho kỳ hạn 1-3 tháng, 6,6%/năm cho kỳ hạn 6-9 tháng và 6,8%/năm cho kỳ hạn 12-18 tháng trong bảng online ngày 3/6.
Lãi suất tại quầy vẫn thấp hơn đáng kể ở nhóm quốc doanh. Khảo sát biểu lãi suất tại quầy cho thấy Agribank, BIDV, Vietcombank và VietinBank phổ biến 3,5%-4%/năm ở kỳ hạn 6-9 tháng, 5,9%/năm ở kỳ hạn 12 tháng và 6%/năm ở kỳ hạn 24 tháng. Điều này cho thấy chênh lệch lớn giữa lãi suất niêm yết tại quầy và ưu đãi trên kênh số.
Lãi suất liên ngân hàng là tín hiệu cần theo dõi kỹ. Ngày 1/6, lãi suất qua đêm lên 10,66%/năm, 1 tuần lên 9,77%/năm, 2 tuần lên 8,09%/năm và 1 tháng lên 7,53%/năm. Đến ngày 2/6, qua đêm giảm về 6,60%/năm, 1 tuần còn 6,95%/năm, 2 tuần 7,30%/năm và 1 tháng 7,20%/năm.
NHNN dùng đồng thời OMO và swap USD/VND. Trong phiên 2/6, NHNN chào thầu 11.000 tỷ đồng trên kênh OMO, trúng hơn 6.000 tỷ đồng, trong khi lượng giấy tờ có giá đáo hạn 24.646 tỷ đồng khiến hệ thống bị hút ròng 18.620 tỷ đồng. Cùng thời điểm, NHNN thực hiện swap USD/VND kỳ hạn 14 ngày, quy mô tối đa $1 tỷ.
Bảng dưới đây tổng hợp các mức lãi suất đáng chú ý ngày 3/6/2026. Cột 1-18 tháng chủ yếu phản ánh lãi suất gửi online trong bảng cập nhật ngày 3/6. Cột 24 tháng được ghi chú riêng vì không phải ngân hàng nào cũng công bố cùng một kênh dữ liệu online trong nguồn mở.
| Ngân hàng | 1 tháng | 3 tháng | 6 tháng | 12 tháng | 18 tháng | 24 tháng | Ghi chú |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Agribank | 4,75% | 4,75% | 6,6% | 6,8% | 6,8% | 6,0% | 1-18 tháng là online, 24 tháng theo khảo sát tại quầy nhóm Big 4 |
| BIDV | 4,75% | 4,75% | 6,6% | 6,8% | 6,8% | 6,0% | 1-18 tháng là online, 24 tháng tại quầy phổ biến nhóm Big 4 |
| Vietcombank | 4,75% | 4,75% | 6,6% | 6,8% | 6,8% | 6,0% | Online cao hơn biểu công bố website ở một số nhóm khách hàng |
| VietinBank | 4,75% | 4,75% | 6,6% | 6,8% | 6,8% | 6,0% | Cần kiểm tra chi nhánh vì biểu tại quầy có thể khác địa bàn |
| LPBank | 4,6% | 4,65% | 6,8% | 6,9% | 6,95% | 7,0% | Online, kỳ hạn 24-25 tháng sau khi giảm 0,2 điểm phần trăm |
| MBV | 4,6% | 4,75% | 7,0% | 7,0% | 7,0% | Chưa có cùng kênh | Nhóm lãi suất online cao ở kỳ hạn 6-18 tháng |
| PGBank | 4,75% | 4,75% | 6,9% | 7,0% | 6,8% | 6,6%-6,8% | Online 1-18 tháng, 24 tháng theo khảo sát tại quầy |
| Bac A Bank | 4,55% | 4,55% | 6,85% | 6,9% | 6,75% | 6,75% | Nhóm cao ở kỳ hạn 6-24 tháng |
| OCB | 4,75% | 4,75% | 6,6% | 6,9% | 6,8% | 6,8% | Kỳ hạn 24 tháng theo khảo sát tại quầy |
| Sacombank | 4,5% | 4,5% | 6,4% | 6,6% | 6,6% | 7,0%-7,1% | Biểu online tổng hợp thấp hơn một số chương trình kỳ hạn dài |
Dữ liệu online ngày 3/6 cho thấy nhóm ngân hàng có lãi suất cao nhất không còn chỉ là các ngân hàng nhỏ. Big 4 đang dùng kênh online để tăng sức cạnh tranh, trong khi ngân hàng cổ phần vẫn giữ lợi thế ở kỳ hạn dài hoặc chương trình có điều kiện.
Sự khác biệt lớn nhất nằm ở điều kiện áp dụng. Một số mức lãi suất cao chỉ dành cho gửi online, khách hàng ưu tiên, khoản tiền lớn hoặc kỳ hạn đặc biệt. Ví dụ, Vikki Bank có mức 7,9%/năm cho kỳ hạn 13 tháng nhưng áp dụng với số tiền gửi từ 999 tỷ đồng trở lên, trong khi Sacombank có chương trình ưu đãi lên đến 8,8%/năm cho khoản gửi mở mới tại quầy trong thời gian chương trình còn hiệu lực.
Điều này khiến câu hỏi “ngân hàng có lãi suất cao nhất” cần được đọc cẩn trọng hơn. Mức cao nhất trên tiêu đề không luôn là mức phổ biến cho đa số người gửi tiền. Người gửi cần phân biệt lãi suất niêm yết đại trà, lãi suất gửi tiết kiệm online, lãi suất ưu đãi có điều kiện và lãi suất dành cho khách hàng ưu tiên.
Lãi suất thay đổi vì hệ thống ngân hàng cùng lúc chịu nhiều lực kéo. Ở phía huy động, tín dụng phục hồi khiến các ngân hàng cần duy trì nguồn vốn ổn định hơn, đặc biệt là kỳ hạn trung và dài. Khi nhu cầu vốn tăng nhanh hơn tốc độ tiền gửi, một số ngân hàng phải nâng lãi suất tiền gửi hoặc đưa ra ưu đãi trên kênh số để giữ chân dòng tiền.
Ở phía thanh khoản hệ thống, lãi suất liên ngân hàng là nhiệt kế ngắn hạn. Khi lãi suất qua đêm tăng nhanh, điều đó thường cho thấy nhu cầu vay mượn VND giữa các ngân hàng tăng lên. Tuy nhiên, cú tăng một hoặc hai phiên chưa đủ để khẳng định xu hướng tăng dài hạn của lãi suất huy động. Điểm quan trọng là mức cao đó có kéo dài hay không.
Hoạt động điều hành của Ngân hàng Nhà nước đóng vai trò cân bằng. OMO giúp bơm vốn ngắn hạn qua kênh cầm cố giấy tờ có giá. Swap USD/VND giúp ngân hàng có nguồn USD tạm thời chuyển đổi sang VND trong kỳ hạn nhất định. Trong phiên 2/6, swap 14 ngày được thực hiện với tỷ giá mua giao ngay 23.932 VND/USD và tỷ giá bán kỳ hạn 23.944 VND/USD, quy mô tối đa $1 tỷ.
Tỷ giá cũng là ràng buộc lớn. Ngày 3/6, NHNN công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.145 VND cho 1 đô la Mỹ, số văn bản 198/TB-NHNN. Vietcombank cập nhật lúc 08:12 cùng ngày với USD ở mức 26.088 VND mua tiền mặt, 26.118 VND mua chuyển khoản và 26.398 VND bán ra. Những diễn biến này nối tiếp xu hướng căng thẳng của ngày trước đó, khi giá USD trong nước liên tục giao dịch sát trần bất chấp chỉ số DXY suy giảm nhẹ, đòi hỏi sự điều tiết khéo léo từ phía Ngân hàng Nhà nước để ổn định thị trường.
Khi tỷ giá USD/VND chịu áp lực, dư địa giảm lãi suất thường hẹp lại. Nếu lãi suất VND giảm quá nhanh trong khi lãi suất USD vẫn cao, chênh lệch lợi suất có thể làm nắm giữ VND kém hấp dẫn hơn, từ đó tạo thêm áp lực lên tỷ giá.

Lãi suất liên ngân hàng qua đêm là chi phí vay VND rất ngắn hạn giữa các ngân hàng. Khi chỉ số này tăng mạnh, thị trường thường hiểu rằng thanh khoản VND đang căng hơn, ít nhất trong ngắn hạn. Ngày 1/6, lãi suất qua đêm 10,66%/năm và doanh số giao dịch qua đêm 809.334 tỷ đồng cho thấy nhu cầu vốn ngắn hạn vẫn tập trung rất lớn ở kỳ hạn siêu ngắn.
Tuy nhiên, lãi suất qua đêm không phải lãi suất tiết kiệm. Lãi suất liên ngân hàng phản ánh nhu cầu vốn giữa các tổ chức tín dụng, còn lãi suất tiền gửi phản ánh chiến lược huy động từ dân cư và doanh nghiệp. Một phiên qua đêm tăng mạnh có thể không lập tức khiến bảng lãi suất tiết kiệm tăng, nhất là khi NHNN nhanh chóng cung cấp công cụ điều tiết.
Phiên 2/6 cho thấy phản ứng đó khá rõ. Sau khi tăng mạnh đầu tuần, lãi suất VND liên ngân hàng hạ ở tất cả kỳ hạn ngắn từ 1 tháng trở xuống. Lãi suất qua đêm giảm 4,40 điểm phần trăm về 6,60%/năm, trong khi 1 tuần, 2 tuần và 1 tháng lần lượt ở 6,95%, 7,30% và 7,20%/năm.
Điểm đáng chú ý là NHNN không chỉ “bơm tiền” một chiều. Trong phiên 2/6, dù có hơn 6.000 tỷ đồng OMO trúng thầu, lượng giấy tờ có giá đáo hạn lớn khiến cơ quan điều hành hút ròng 18.620 tỷ đồng. Điều này cho thấy chính sách tiền tệ đang được điều tiết rất sát theo trạng thái thanh khoản, không chuyển hẳn sang nới lỏng mạnh.
Dấu hiệu cho thấy lãi suất huy động có thể tăng tiếp là lãi suất liên ngân hàng duy trì vùng cao nhiều phiên, tín dụng tăng nhanh hơn huy động, tỷ giá USD/VND lên sát vùng căng thẳng, và nhiều ngân hàng cùng tăng lãi suất ở kỳ hạn 6 tháng hoặc kỳ hạn 12 tháng. Ngược lại, nếu qua đêm ổn định dưới vùng 6%-7% và OMO không phải tăng mạnh, mặt bằng huy động có thể đi ngang hoặc chỉ tăng cục bộ.
Người gửi tiền không nên chỉ nhìn vào mức cao nhất. Một khoản tiền gửi 7%-8%/năm có thể kém linh hoạt nếu bị khóa trong kỳ hạn dài, bị mất lãi khi rút trước hạn hoặc chỉ áp dụng với số dư rất lớn. Lãi suất thực sau lạm phát mới là thước đo quan trọng hơn.
CPI tháng 5/2026 tăng 0,29% so với tháng trước, tăng 5,6% so với cùng kỳ năm trước và bình quân 5 tháng đầu năm tăng 4,31%; lạm phát cơ bản tăng 4,04%. Với bối cảnh này, lãi suất tiết kiệm 6,5%-7%/năm vẫn tạo phần bù danh nghĩa, nhưng phần bù đó không còn quá rộng nếu lạm phát tiếp tục tăng.
Kỳ hạn 6 tháng phù hợp với người cần giữ linh hoạt vì không khóa vốn quá lâu, trong khi vẫn nhận mức lãi suất cao hơn kỳ hạn ngắn. Kỳ hạn 12 tháng hấp dẫn hơn nếu người gửi tin rằng lãi suất có thể giảm trở lại hoặc muốn cố định lợi suất. Kỳ hạn 18-24 tháng chỉ nên chọn khi dòng tiền thực sự nhàn rỗi và điều kiện lãi suất được xác minh rõ.
Gửi tiết kiệm online thường có lãi cao hơn tại quầy, nhưng người gửi cần kiểm tra kỹ sản phẩm. Một số ngân hàng tách riêng lãi suất online thông thường, lãi suất khách hàng ưu tiên và lãi suất chương trình. Cùng một ngân hàng, cùng kỳ hạn, người gửi có thể nhận mức lãi khác nhau tùy kênh gửi, số tiền, thời điểm mở sổ và hạng khách hàng.
Bảo hiểm tiền gửi và uy tín ngân hàng cũng là phần không thể bỏ qua. Lãi suất cao hơn vài chục điểm cơ bản không nên là lý do duy nhất để chọn nơi gửi tiền. Với khoản tiền lớn, chiến lược chia nhiều kỳ hạn và nhiều ngân hàng có thể giúp cân bằng giữa lợi suất, thanh khoản và rủi ro vận hành.
Lãi suất VND và tỷ giá USD/VND có quan hệ chặt chẽ. Khi lãi suất VND ngắn hạn tăng, nắm giữ VND có thể hấp dẫn hơn trong ngắn hạn, qua đó giảm một phần áp lực lên tỷ giá. Nhưng nếu mức tăng đến từ căng thanh khoản, thị trường sẽ quan sát xem NHNN can thiệp bằng OMO, tín phiếu hay swap ngoại tệ.
Fed là biến số quốc tế quan trọng. FOMC hiện duy trì mục tiêu lãi suất quỹ liên bang ở vùng 3,50%-3,75%, theo tài liệu chính thức có hiệu lực từ cuộc họp cuối tháng 4/2026. Khi lãi suất Mỹ còn ở vùng cao, đồng USD thường có nền hỗ trợ tốt hơn, nhất là trong các giai đoạn rủi ro địa chính trị hoặc lạm phát tăng.
DXY cũng cần được theo dõi cùng USD/VND. Dữ liệu thị trường ngày 3/6 cho thấy chỉ số USD Index dao động quanh 99,22-99,24 điểm, phản ánh đồng USD vẫn ở vùng khá ổn định sau các nhịp biến động của lợi suất và kỳ vọng Fed.
ECB giữ lãi suất tiền gửi ở 2,00%, lãi suất tái cấp vốn chính ở 2,15% và lãi suất cho vay cận biên ở 2,40% trong quyết định chính sách ngày 30/4/2026. Chênh lệch chính sách giữa Fed và ECB ảnh hưởng đến EUR/USD, qua đó tác động gián tiếp tới rổ tiền tệ và tâm lý giao dịch USD tại châu Á.
Nhà giao dịch theo dõi USD/VND, EUR/USD và các cặp tiền chính có thể sử dụng nền tảng giao dịch của EBC để quan sát phản ứng của thị trường trước dữ liệu lãi suất, tín hiệu Fed và biến động tỷ giá trong thời gian thực. Cách tiếp cận phù hợp là kết hợp lịch công bố dữ liệu, vùng kỹ thuật quan trọng và quản trị rủi ro, thay vì giao dịch chỉ dựa trên một con số lãi suất đơn lẻ.
Kịch bản 1: Lãi suất ổn định nếu thanh khoản được hỗ trợ và tỷ giá hạ nhiệt. Điều kiện kích hoạt là lãi suất qua đêm duy trì dưới vùng 6%-7%, OMO không cần mở rộng mạnh, tỷ giá USD/VND không tăng thêm đáng kể và Fed không phát tín hiệu cứng rắn hơn. Trong kịch bản này, lãi suất tiết kiệm có thể đi ngang, còn các ngân hàng chỉ điều chỉnh riêng lẻ theo nhu cầu vốn.
Kịch bản 2: Lãi suất huy động tăng chọn lọc nếu tín dụng tăng nhanh hơn huy động. Kịch bản này xảy ra khi nhu cầu vay vốn phục hồi, ngân hàng cần tăng nguồn vốn trung và dài hạn, trong khi tiền gửi dân cư không tăng tương ứng. Kỳ hạn 6 tháng và kỳ hạn 12 tháng sẽ là vùng cạnh tranh chính vì đây là hai kỳ hạn vừa đủ hấp dẫn cho người gửi, vừa phù hợp với nhu cầu cân đối vốn của ngân hàng.
Kịch bản 3: Lãi suất khó giảm mạnh nếu Fed giữ lập trường cứng rắn hoặc USD/VND chịu áp lực. Nếu DXY tăng, lợi suất Mỹ nhích lên hoặc tỷ giá trong nước tiến gần vùng căng thẳng, NHNN có thể phải ưu tiên ổn định tỷ giá và thanh khoản hơn là thúc đẩy giảm lãi suất. Khi đó, lãi suất vay khó giảm sâu, còn lãi suất huy động cao có thể kéo dài ở nhóm ngân hàng cần vốn.
Ở bảng lãi suất online ngày 3/6/2026, MBV đạt 7%/năm ở kỳ hạn 6-18 tháng, PGBank đạt 7%/năm ở kỳ hạn 12 tháng, LPBank đạt 7%/năm ở kỳ hạn 24-25 tháng sau điều chỉnh. Một số mức cao hơn có điều kiện số tiền lớn hoặc chương trình riêng.
Có, trong nhiều trường hợp gửi tiết kiệm online cao hơn tại quầy, đặc biệt ở nhóm Big 4 và một số ngân hàng cổ phần. Tuy nhiên, mức chênh lệch phụ thuộc ngân hàng, kỳ hạn, số tiền gửi, hạng khách hàng và chương trình tại từng thời điểm.
Có, nhưng không phải ngay lập tức. Lãi suất liên ngân hàng tăng phản ánh chi phí vốn ngắn hạn giữa các ngân hàng. Nếu tình trạng này kéo dài, ngân hàng có thể phải tăng lãi suất huy động để thu hút tiền gửi. Nếu chỉ tăng vài phiên rồi hạ, tác động đến tiền gửi thường hạn chế.
Fed giữ lãi suất cao khiến đồng USD có nền hỗ trợ tốt hơn và làm chênh lệch lãi suất VND/USD trở thành biến số quan trọng. Điều này có thể ảnh hưởng tỷ giá USD/VND, chính sách tiền tệ của NHNN, dòng vốn ngoại và dư địa giảm lãi suất trong nước.
Kỳ hạn dài phù hợp với khoản tiền thật sự nhàn rỗi và người gửi muốn cố định lợi suất. Nếu cần linh hoạt, chia tiền thành nhiều kỳ hạn có thể hợp lý hơn. Người gửi cần kiểm tra điều kiện rút trước hạn, tái tục, kênh online và mức lãi thực nhận.
Lãi suất ngân hàng ngày 3/6/2026 không chỉ là câu chuyện ngân hàng nào trả lãi cao nhất. Lãi suất tiết kiệm online vẫn hấp dẫn ở một số kỳ hạn, LPBank giảm lãi suất chọn lọc, Big 4 cạnh tranh mạnh hơn trên kênh số, trong khi thị trường liên ngân hàng vừa phát tín hiệu căng thanh khoản rồi hạ nhiệt nhanh.
Người gửi tiền, người vay và nhà giao dịch cần theo dõi đồng thời lãi suất huy động, lãi suất liên ngân hàng, OMO, swap USD/VND, tỷ giá trung tâm và tín hiệu Fed. Khi các biến số này cùng dịch chuyển, quyết định giữ tiền, vay vốn hay giao dịch tiền tệ sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào bức tranh thanh khoản tổng thể, không chỉ một dòng trong bảng lãi suất.