Đăng vào: 2026-03-16
Cập nhật vào: 2026-08-31
Giao dịch hàng hóa cho phép nhà đầu tư và doanh nghiệp tiếp cận biến động giá của nông sản, kim loại và nguyên liệu công nghiệp thông qua các hợp đồng chuẩn hóa, thay vì nhất thiết phải mua, lưu kho và vận chuyển hàng thật. Cốt lõi của thị trường nằm ở hợp đồng, ký quỹ, thanh toán bù trừ và khả năng giao dịch theo cả chiều tăng lẫn chiều giảm.
Tại Việt Nam, quy mô thị trường đang mở rộng nhanh. Năm 2025, giá trị giao dịch bình quân đạt khoảng 7.500 tỷ đồng mỗi phiên, tăng gần 46% so với năm trước. Trong 8 tháng đầu năm 2026, khối lượng giao dịch trên MXV tăng hơn 80% so với cùng kỳ năm 2025, trong khi giá trị giao dịch trung bình đạt hơn 9.000 tỷ đồng mỗi ngày.
Theo nghĩa rộng, giao dịch hàng hóa là hoạt động mua bán hàng hóa vật chất hoặc các hợp đồng có hàng hóa làm tài sản cơ sở.
Trong lĩnh vực đầu tư, giao dịch hàng hóa thường đề cập đến việc mua và bán các hợp đồng chuẩn hóa trên thị trường hàng hóa có tổ chức. Mỗi hợp đồng quy định cụ thể loại hàng hóa, quy mô hợp đồng, đơn vị yết giá, bước giá, tháng đáo hạn và ngày giao dịch cuối cùng.
Tại Việt Nam, Điều 63 Luật Thương mại quy định mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa là hoạt động thương mại trong đó các bên thỏa thuận mua bán một lượng hàng hóa nhất định, theo những tiêu chuẩn của Sở giao dịch hàng hóa, với giá được thỏa thuận tại thời điểm giao kết hợp đồng và thời gian giao hàng được xác định trong tương lai.
Giao dịch vật chất thường gắn với quyền sở hữu hàng thật, vận chuyển, kho bãi, kiểm định chất lượng và giao nhận.
Giao dịch qua Sở dựa trên hợp đồng được tiêu chuẩn hóa và cơ chế ký quỹ. Doanh nghiệp có thể sử dụng hợp đồng để giảm rủi ro biến động giá nguyên liệu hoặc giá bán, trong khi nhà đầu tư có thể tìm kiếm lợi nhuận từ sự thay đổi của giá hợp đồng.

Nhà giao dịch không nhất thiết phải mua hàng thật. Giá trị vị thế thay đổi theo biến động của hợp đồng có hàng hóa làm tài sản cơ sở.
Thị trường cho phép mở vị thế mua khi kỳ vọng giá tăng và vị thế bán khi kỳ vọng giá giảm. Kết quả giao dịch phụ thuộc vào hướng và mức biến động của giá so với vị thế đã mở.
Một đặc điểm quan trọng khác là ký quỹ. Đây là khoản tiền bảo đảm thực hiện nghĩa vụ giao dịch, không phải phí và cũng không phải toàn bộ giá trị danh nghĩa của hợp đồng. Vì số vốn ký quỹ có thể thấp hơn đáng kể giá trị hợp đồng, cơ chế này tạo ra đòn bẩy và có thể khuếch đại cả lợi nhuận lẫn thua lỗ.
Hợp đồng hàng hóa cũng có thời hạn. Nhà giao dịch phải theo dõi tháng hợp đồng, ngày giao dịch cuối cùng và các quy định xử lý vị thế để tránh rủi ro phát sinh khi hợp đồng tiến gần thời điểm đáo hạn.
Hàng hóa phái sinh là các hợp đồng có giá trị phụ thuộc vào giá của hàng hóa cơ sở như ngô, cà phê, bạc, đồng hoặc cao su.
Điều 64 Luật Thương mại quy định hợp đồng mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa gồm hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng quyền chọn. Với hợp đồng kỳ hạn, bên bán cam kết giao và bên mua cam kết nhận hàng hóa tại một thời điểm trong tương lai theo hợp đồng. Với hợp đồng quyền chọn, người mua quyền có quyền, nhưng không phải nghĩa vụ, thực hiện giao dịch theo các điều kiện đã xác định.
Cần lưu ý về thuật ngữ. Trong khuôn khổ pháp luật Việt Nam, Luật Thương mại sử dụng khái niệm hợp đồng kỳ hạn, trong khi MXV sử dụng thuật ngữ hợp đồng kỳ hạn tiêu chuẩn đối với các hợp đồng được giao dịch qua Sở. Không nên đồng nhất khái niệm này với hợp đồng kỳ hạn song phương, thường gọi là forward, trên thị trường quốc tế. Forward thường được thỏa thuận ngoài Sở và có các điều khoản tùy chỉnh, trong khi futures là hợp đồng tiêu chuẩn hóa được giao dịch trên Sở.
Nhà giao dịch cũng có thể gặp giao dịch chênh lệch giá, trong đó hai hợp đồng có quan hệ với nhau được mua và bán đồng thời. Kết quả giao dịch khi đó phụ thuộc vào sự thay đổi của khoảng chênh lệch giá giữa hai hợp đồng.
Sở giao dịch thiết lập quy tắc vận hành và các tiêu chuẩn liên quan đến hợp đồng. Các thành viên kinh doanh đóng vai trò kết nối khách hàng với hệ thống giao dịch theo cơ chế được quy định.
Người tham gia có thể gồm nhà đầu tư cá nhân, doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp xuất nhập khẩu, tổ chức đầu tư và các chủ thể có nhu cầu thực hiện chiến lược hedging để bảo vệ biên lợi nhuận trước biến động bất lợi của giá cả.
Giá hình thành từ tương tác giữa lệnh mua và lệnh bán. Thanh khoản thường được đánh giá thông qua khối lượng giao dịch, chênh lệch giữa giá mua và giá bán cùng độ sâu của thị trường. Số lượng hợp đồng mở cung cấp thêm thông tin về quy mô các vị thế chưa được tất toán, nhưng không đồng nghĩa trực tiếp với thanh khoản.
Ký quỹ được theo dõi trong thời gian duy trì vị thế. Nếu số dư không đáp ứng yêu cầu, khách hàng có thể phải bổ sung ký quỹ hoặc vị thế có thể bị xử lý theo quy định.
Thời gian giao dịch khác nhau giữa từng hợp đồng và Sở liên thông. Một số sản phẩm có thời gian giao dịch rất dài. Ví dụ, Bạc Nano ACM hiện giao dịch từ 05:00 đến 04:00 ngày hôm sau, từ thứ Hai đến thứ Sáu.

Sở Giao dịch Hàng hóa Việt Nam, MXV, là đầu mối tổ chức hoạt động giao dịch hàng hóa tập trung tại Việt Nam và thực hiện kết nối với nhiều Sở giao dịch hàng hóa nước ngoài.
Theo bảng ký quỹ được kiểm tra ngày 31/08/2026, MXV đang hiển thị 44 hợp đồng kỳ hạn tiêu chuẩn thuộc ba nhóm gồm nông sản, nguyên liệu công nghiệp và kim loại. Các sản phẩm trong danh sách này liên thông với những Sở như CBOT, COMEX, NYMEX, ICE US, ICE Europe, LME, SGX, OSE, BMDX và ACM.
Danh mục sản phẩm và mức ký quỹ có thể được điều chỉnh theo từng thời điểm. Vì vậy, con số hiện tại không nên được xem là cố định lâu dài.
Có. Hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa được điều chỉnh bởi Luật Thương mại và các văn bản hướng dẫn liên quan.
Tính đến ngày 31/08/2026, Nghị định 158/2006/NĐ-CP và Nghị định 51/2018/NĐ-CP vẫn đang có hiệu lực.
Nghị định 302/2026/NĐ-CP được ban hành ngày 01/08/2026 và có hiệu lực từ 15/09/2026. Từ thời điểm đó, Nghị định 158/2006/NĐ-CP và Nghị định 51/2018/NĐ-CP hết hiệu lực.
Một thay đổi đáng chú ý tại Điều 30 Nghị định 302/2026/NĐ-CP là Sở giao dịch hàng hóa quy định mức ký quỹ ban đầu khi đặt lệnh nhưng không được thấp hơn 5% trị giá của từng lệnh giao dịch. Quy định này áp dụng khi Nghị định có hiệu lực từ ngày 15/09/2026.
Trước khi mở tài khoản, nhà đầu tư nên kiểm tra danh sách thành viên đang hoạt động, mã thành viên, website chính thức, biểu phí, tài khoản nộp tiền và quy chế giao dịch.
Danh mục hiện tại có thể chia thành ba nhóm chính.
Giao dịch hàng hóa nông sản: ngô, đậu tương, dầu đậu tương, khô đậu tương, lúa mì cùng các hợp đồng có quy mô nhỏ hơn như mini và micro.
Nguyên liệu công nghiệp: cà phê Arabica, cà phê Robusta, cacao, đường, bông, cao su và dầu cọ.
Kim loại: bao gồm các sản phẩm phái sinh như giao dịch bạc, đồng, bạch kim, quặng sắt, nhôm, chì, kẽm, niken, thiếc cùng các hợp đồng mini, micro và nano.
Nhà đầu tư không nên chọn sản phẩm chỉ vì mức ký quỹ thấp. Quy mô hợp đồng, bước giá, giá trị của mỗi bước giá, thanh khoản, thời gian giao dịch và mức biến động mới quyết định mức rủi ro thực tế.
Tại ngày 31/08/2026, MXV cũng đang công bố Thông báo 670/TB/GD-MXV ngày 11/08/2026 liên quan đến việc chưa mở mới vị thế đối với một số giao dịch chênh lệch giá, quyền chọn và sản phẩm thuộc LME. Vì vậy, khả năng mở mới từng loại hợp đồng cần được kiểm tra theo thông báo vận hành tại thời điểm giao dịch.
Đối với doanh nghiệp, hàng hóa phái sinh có thể hỗ trợ quản trị biến động chi phí đầu vào hoặc giá bán đầu ra.
Đối với nhà đầu tư, thị trường tạo khả năng giao dịch hai chiều và mở rộng phạm vi tiếp cận sang nông sản, nguyên liệu công nghiệp và kim loại.
Tuy nhiên, ký quỹ cũng tạo ra rủi ro đòn bẩy. Một biến động tương đối nhỏ của giá hợp đồng có thể tạo ra mức lãi hoặc lỗ đáng kể so với số tiền ký quỹ.
Các rủi ro khác gồm thiếu hụt ký quỹ, thanh khoản thấp, trượt giá, biến động tỷ giá, đáo hạn hợp đồng và sai sót khi đặt lệnh. Giao dịch quá mức hoặc liên tục tăng vị thế khi thị trường đi ngược nhận định có thể khiến tổn thất tăng nhanh.
Cung và cầu là nền tảng của định giá hàng hóa. Sản lượng, tiêu thụ, tồn kho, xuất nhập khẩu và tình trạng thiếu hụt hoặc dư cung có thể thay đổi triển vọng giá.
Nông sản đặc biệt nhạy cảm với hạn hán, lượng mưa, băng giá, mùa vụ, El Niño và La Niña.
Đồng đô la Mỹ và lãi suất cũng có ảnh hưởng đáng kể vì nhiều hàng hóa quốc tế được định giá bằng đồng tiền này. Tuy nhiên, cách sức mạnh đồng đô la ảnh hưởng đến hàng hóa không phải lúc nào cũng tuân theo mối quan hệ nghịch chiều tuyệt đối trong mọi chu kỳ thị trường.
Ngoài ra, tăng trưởng kinh tế, rủi ro địa chính trị, thuế quan hay xung đột vận tải biển có thể tác động trực tiếp đến nhóm năng lượng khi giao dịch dầu thô Brent hoặc lựa chọn giao dịch dầu thô XTI và nhanh chóng làm đảo lộn tương quan cung cầu toàn cầu.
Một quy trình có kỷ luật nên gồm các bước:
Hiểu hàng hóa cơ sở và đặc tả hợp đồng.
Kiểm tra quy mô hợp đồng, bước giá, ký quỹ và ngày giao dịch cuối cùng.
Chọn thành viên kinh doanh hợp pháp.
Mở tài khoản và xác định số vốn có thể chịu rủi ro.
Chọn sản phẩm phù hợp.
Phân tích cung cầu, diễn biến giá, yếu tố kỹ thuật và mùa vụ.
Xác định điểm mở vị thế, điểm cắt lỗ và mục tiêu lợi nhuận.
Tính quy mô vị thế trước khi đặt lệnh.
Theo dõi số dư ký quỹ và mức rủi ro.
Đóng hoặc xử lý vị thế trước các mốc thời gian quan trọng của hợp đồng.

Không có một mức vốn cố định cho mọi nhà giao dịch. Mỗi sản phẩm có yêu cầu ký quỹ, quy mô hợp đồng và mức biến động khác nhau.
Về nguyên tắc:
Giá trị danh nghĩa hợp đồng = Giá hàng hóa × Quy mô hợp đồng, sau khi chuẩn hóa đúng đơn vị yết giá và tiền tệ
Không nên sử dụng một công thức lãi lỗ đơn giản cho mọi hợp đồng vì đơn vị yết giá giữa các sản phẩm khác nhau. Cách an toàn hơn là sử dụng:
Lãi/lỗ = Số bước giá biến động × Giá trị mỗi bước giá × Số hợp đồng
Ví dụ, nếu một hợp đồng có bước giá 0,05 cent/pound và mỗi bước giá tương ứng $18,75, biến động 10 bước giá trên một hợp đồng tương ứng mức thay đổi $187,50 trước các khoản chi phí liên quan.
Với những sản phẩm yết giá bằng các đồng tiền khác, kết quả còn cần được quy đổi theo cơ chế tỷ giá áp dụng.
Nhà giao dịch cũng không nên sử dụng toàn bộ vốn để đáp ứng ký quỹ. Phần tiền dự phòng giúp hấp thụ biến động bất lợi và giảm nguy cơ phải đóng vị thế khi thị trường biến động mạnh.
Chi phí giao dịch có thể gồm phí giao dịch, các khoản phí liên quan của Sở hoặc thành viên, phí sử dụng nền tảng nếu có, chênh lệch giữa giá mua và giá bán cùng chi phí phát sinh do trượt giá.
Quản trị rủi ro phải bắt đầu trước khi đặt lệnh. Mỗi vị thế cần có mức lỗ tối đa, quy mô phù hợp và điểm thoát khi nhận định sai. Không nên tận dụng toàn bộ sức mua từ cơ chế ký quỹ chỉ vì hệ thống cho phép.
| Tiêu chí | Giao dịch hàng hóa phái sinh | Đầu tư cổ phiếu |
|---|---|---|
| Tài sản | Hợp đồng gắn với hàng hóa cơ sở | Cổ phần của doanh nghiệp |
| Giao dịch hai chiều | Có thể mở vị thế mua hoặc bán | Chủ yếu mua trước, bán sau trên thị trường cơ sở |
| Đòn bẩy | Gắn chặt với cơ chế ký quỹ | Phụ thuộc hình thức giao dịch |
| Thời gian giao dịch | Phụ thuộc từng hợp đồng, một số sản phẩm giao dịch gần 23 giờ/ngày | Theo thời gian giao dịch của Sở chứng khoán |
| Yếu tố định giá | Cung cầu hàng hóa, tiền tệ, thời tiết, địa chính trị | Kết quả kinh doanh, định giá doanh nghiệp và kinh tế |
| Kỳ hạn | Hợp đồng có thời hạn | Cổ phiếu thông thường không có ngày đáo hạn |
| Thanh toán | Theo quy định của hợp đồng và Sở | Theo cơ chế của thị trường chứng khoán |
| Rủi ro đặc thù | Đòn bẩy, ký quỹ, giá và đáo hạn | Doanh nghiệp, định giá, thị trường và thanh khoản |
Thị trường phù hợp với người hiểu cơ chế ký quỹ, chấp nhận biến động và có kỷ luật quản trị vốn; nhà đầu tư muốn đa dạng hóa danh mục đầu tư sang các nhóm tài sản thực; hoặc doanh nghiệp có nhu cầu phòng ngừa rủi ro biến động giá.
Ngược lại, người sử dụng tiền vay hoặc tiền phục vụ nhu cầu thiết yếu, chưa hiểu đòn bẩy, không chịu được biến động lớn hoặc kỳ vọng lợi nhuận chắc chắn không phù hợp với loại hình giao dịch này.
Không nhất thiết. Nhiều giao dịch được thực hiện thông qua hợp đồng và vị thế có thể được đóng trước thời điểm thực hiện hợp đồng. Việc thanh toán hoặc giao nhận vật chất phụ thuộc vào đặc tả của từng sản phẩm và quy định của thị trường liên quan.
Không có con số chung. Số vốn phụ thuộc vào sản phẩm, mức ký quỹ, quy mô hợp đồng, mức biến động và số lượng vị thế. Hợp đồng có ký quỹ thấp chưa chắc có rủi ro thấp, vì giá trị mỗi bước giá và khả năng biến động cũng phải được tính đến.
Rủi ro có thể cao nếu sử dụng đòn bẩy lớn hoặc không kiểm soát quy mô vị thế. Biến động giá, ký quỹ, thanh khoản, tỷ giá và thời hạn hợp đồng đều có thể gây thua lỗ. Quản trị vốn vì vậy quan trọng không kém khả năng phân tích hướng giá.
Giao dịch hàng hóa là hoạt động mua bán các hợp đồng dựa trên hàng hóa cơ sở, cho phép nhà đầu tư tiếp cận biến động giá và có thể giao dịch theo cả chiều tăng lẫn chiều giảm thông qua cơ chế ký quỹ.
Ba yếu tố quan trọng nhất cần hiểu trước khi tham gia là đặc tả hợp đồng, cơ chế ký quỹ và quản trị rủi ro. Giao dịch hai chiều và đòn bẩy giúp tăng tính linh hoạt trong sử dụng vốn, nhưng đồng thời có thể làm thua lỗ tăng nhanh nếu thị trường đi ngược vị thế.
Danh mục sản phẩm, mức ký quỹ, biểu phí, lịch giao dịch và quy định vận hành có thể thay đổi theo từng thời điểm. Vì vậy, mọi quyết định đầu tư hàng hóa phái sinh cần dựa trên thông tin hiện hành, hiểu rõ đặc tính của hợp đồng và phù hợp với khả năng chịu rủi ro của người tham gia.
Nếu bạn muốn giao dịch biến động giá hàng hóa mà không cần sở hữu hay lưu trữ tài sản vật chất, hình thức giao dịch CFD hàng hóa tại EBC cung cấp cách tiếp cận linh hoạt với các thị trường như giao dịch vàng, bạc, dầu thô và giao dịch khí tự nhiên.
Nhà giao dịch có thể mở vị thế theo cả chiều tăng và giảm, đồng thời tiếp cận mức giá cạnh tranh và thanh khoản từ nhiều nguồn. Khám phá giao dịch hàng hóa CFD tại EBC để xem sản phẩm, điều kiện giao dịch và lựa chọn thị trường phù hợp với chiến lược của bạn.