Đăng vào: 2026-07-10
Cập nhật vào: 2026-07-10
Tháng 6/2026 đánh dấu một bước chuyển quan trọng của thị trường trái phiếu Việt Nam. Để hiểu rõ hơn về kênh đầu tư này, nhà đầu tư có thể tìm hiểu thêm khái niệm cơ bản về chứng khoán nợ. Giao dịch thứ cấp tăng mạnh, nhưng phát hành mới suy giảm, lợi suất trái phiếu Chính phủ đi lên và lượng vốn huy động tiếp tục tập trung vào ngân hàng cùng bất động sản.
Sự phân kỳ này cho thấy thanh khoản thị trường đang phục hồi nhanh hơn năng lực tiếp cận vốn. Trong nửa cuối năm, nguồn cung trái phiếu Chính phủ lớn hơn, nhu cầu vốn của ngân hàng và áp lực đáo hạn doanh nghiệp có thể cùng đẩy chi phí huy động lên cao.

Kho bạc Nhà nước huy động 23.375 tỷ đồng trong tháng 6, giảm 30,5% so với tháng trước. Lũy kế sáu tháng đạt 182.561 tỷ đồng, tương đương 36,5% kế hoạch năm.
Giao dịch trái phiếu Chính phủ tăng mạnh, chủ yếu tập trung ở kỳ hạn 10, 15 và 30 năm. Lợi suất tăng trên toàn bộ đường cong, mạnh nhất tại vùng kỳ hạn dài.
Trái phiếu doanh nghiệp phát hành đạt 43.876 tỷ đồng, giảm 23% theo tháng và 65% so với cùng kỳ.
Doanh nghiệp mua lại trước hạn 58.397 tỷ đồng, cao hơn 33,1% lượng phát hành mới.
Sáu tháng cuối năm có 116.329 tỷ đồng trái phiếu doanh nghiệp dự kiến đáo hạn, tạo áp lực tái cấp vốn đáng kể.
Ngân hàng và bất động sản chiếm 79,1% lượng phát hành tháng 6, phản ánh mức độ tập trung cao của thị trường sơ cấp.
| Chỉ tiêu | Tháng 6/2026 | Hàm ý thị trường |
|---|---|---|
| TPCP phát hành | 23.375 tỷ đồng | Tiến độ năm còn thấp |
| Tỷ lệ trúng thầu | 34,4% | Chênh lệch kỳ vọng lợi suất lớn |
| Giao dịch TPCP ước tính | 387.446 tỷ đồng | Thanh khoản tăng rõ rệt |
| TPDN phát hành | 43.876 tỷ đồng | Giảm mạnh so với cùng kỳ |
| TPDN mua lại trước hạn | 58.397 tỷ đồng | Dòng vốn ròng sau mua lại âm |
| TPDN đáo hạn nửa cuối năm | 116.329 tỷ đồng | Rủi ro tái cấp vốn tăng |
Kho bạc Nhà nước gọi thầu 68.000 tỷ đồng trong tháng 6 nhưng chỉ huy động thành công 23.375 tỷ đồng, tương ứng tỷ lệ trúng thầu 34,4%. Kỳ hạn 10 năm chiếm 13.520 tỷ đồng, kỳ hạn 5 năm đạt 9.050 tỷ đồng. Hai nhóm này đóng góp hơn 96% tổng lượng phát hành.
Lãi suất trúng thầu bình quân tăng từ 4,09% trong tháng 5 lên 4,25% trong tháng 6, trong khi kỳ hạn phát hành bình quân giảm xuống 8,4 năm. Tổ hợp kỳ hạn ngắn hơn và chi phí cao hơn cho thấy nhà đầu tư đang yêu cầu mức bù rủi ro lớn hơn trước triển vọng nguồn cung tăng và thanh khoản tiền tệ biến động.
Sau sáu tháng, Kho bạc Nhà nước còn phải huy động 317.439 tỷ đồng để hoàn thành kế hoạch 500.000 tỷ đồng. Bình quân phát hành cần đạt khoảng 52.907 tỷ đồng mỗi tháng trong nửa cuối năm, cao hơn 73,9% mức bình quân của sáu tháng đầu năm.
Đây là biến số quan trọng nhất đối với lợi suất TPCP. Sự chuyển dịch này phản ánh xu hướng biến động của lợi tức nợ công kỳ hạn dài dưới sức ép thanh khoản toàn cầu. Khi nguồn cung tăng tốc, nhà đầu tư có thêm quyền lựa chọn và ít động lực mua bằng mọi giá. Áp lực này sẽ rõ hơn nếu ngân hàng đồng thời tăng huy động để đáp ứng tăng trưởng tín dụng và yêu cầu vốn.
Giá trị giao dịch outright đạt 305.218 tỷ đồng. Báo cáo có sai lệch giữa phần nội dung, ghi repo 76.881 tỷ đồng, và phụ lục, ghi 82.228 tỷ đồng. Con số 82.228 tỷ đồng phù hợp hơn với mức giao dịch repo bình quân 3.738 tỷ đồng trong 22 phiên.
Sau hiệu chỉnh, tổng giao dịch TPCP đạt khoảng 387.446 tỷ đồng, tương đương 17.611 tỷ đồng mỗi phiên. Kỳ hạn 10, 15 và 30 năm chiếm 96% giao dịch, cho thấy hoạt động tái định vị tập trung tại các tài sản nhạy cảm nhất với biến động lãi suất.
Lợi suất 10 năm tăng 11 điểm cơ bản lên 4,362%, còn các kỳ hạn trên 15 năm tăng từ 17 đến 19 điểm cơ bản. Chênh lệch lợi suất 30 năm và 2 năm mở rộng lên khoảng 121 điểm cơ bản.
Đây là trạng thái đường cong dốc lên do lợi suất dài hạn tăng nhanh hơn, thường phản ánh ba yếu tố: kỳ vọng nguồn cung lớn, yêu cầu bù đắp lạm phát dài hạn và phần bù kỳ hạn cao hơn. Thanh khoản tăng cùng lợi suất tăng vì vậy nghiêng về tái cơ cấu danh mục hơn là một chu kỳ mua lên diện rộng.
Tháng 6 ghi nhận 41 đợt phát hành với tổng giá trị 43.876 tỷ đồng, gồm 40.376 tỷ đồng riêng lẻ và 3.500 tỷ đồng ra công chúng. Tổng phát hành giảm 23% so với tháng trước và 65% so với cùng kỳ.
Danh sách từng lô phát hành cho thấy ngân hàng huy động khoảng 23.070 tỷ đồng, chiếm 52,6%. Bất động sản đạt 11.649 tỷ đồng, chiếm 26,6%. Hai ngành đóng góp tổng cộng 79,1% thị trường, cho thấy hoạt động phát hành chứng khoán nợ của các tổ chức kinh tế hiện nay vẫn còn mang tính chất tập trung lớn.
Mức độ tập trung này cho thấy sự phục hồi chưa lan rộng. Ngân hàng có lợi thế về uy tín, quy mô bảng cân đối và nhu cầu tăng vốn dài hạn. Doanh nghiệp bất động sản lớn có thể huy động nhờ tài sản bảo đảm, hệ sinh thái dự án và khả năng chấp nhận chi phí vốn cao. Các doanh nghiệp nhỏ hơn vẫn gặp khó khăn trong việc thuyết phục nhà đầu tư.
Lãi suất trái phiếu ngân hàng kỳ hạn ngắn chủ yếu nằm quanh 8,0% đến 8,7%. Trái phiếu bất động sản phổ biến mức 11,0% đến 12,5%, nhiều lô còn áp dụng lãi suất thả nổi kèm mức sàn cao.
Khoảng cách này không chỉ phản ánh rủi ro vỡ nợ. Nhà đầu tư còn yêu cầu bù đắp cho thanh khoản thấp, mức độ minh bạch, cấu trúc tài sản bảo đảm, quyền mua lại và khả năng tạo dòng tiền của dự án.
Doanh nghiệp mua lại 58.397 tỷ đồng trái phiếu trước hạn trong tháng 6, bằng 133,1% lượng phát hành. Chênh lệch giữa phát hành và mua lại là âm 14.521 tỷ đồng, chưa tính trái phiếu đáo hạn theo lịch.
Vì vậy, 43.876 tỷ đồng phát hành mới không thể được xem hoàn toàn là nguồn vốn bổ sung cho đầu tư. Một phần đáng kể có thể được dùng để thay thế nghĩa vụ cũ, kéo dài kỳ hạn hoặc tái cấu trúc chi phí vốn.
Thị trường thứ cấp TPDN riêng lẻ lại tăng trưởng tích cực. Giá trị giao dịch đạt 168.576 tỷ đồng, tăng 40,3% theo tháng và 28,7% so với cùng kỳ. Nhà đầu tư đang ưu tiên các trái phiếu đã có lịch sử giao dịch, thông tin rõ hơn và khả năng định giá tốt hơn, thay vì mở rộng khẩu vị rủi ro trên thị trường sơ cấp.
Sáu tháng cuối năm có 116.329 tỷ đồng trái phiếu doanh nghiệp dự kiến đáo hạn, bình quân khoảng 19.388 tỷ đồng mỗi tháng. Rủi ro sẽ không phân bổ đồng đều mà tập trung ở doanh nghiệp có dòng tiền kinh doanh yếu, dự án chậm pháp lý hoặc phụ thuộc vào phát hành mới để thanh toán nợ cũ.
Nghị định 200/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 05/06/2026, thay đổi khung chào bán và giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ. Quy định mới tăng yêu cầu quản lý nguồn vốn, công bố thông tin và trách nhiệm của tổ chức phát hành.
Tác động ngắn hạn có thể là thời gian chuẩn bị phát hành dài hơn và chi phí tuân thủ cao hơn. Về trung hạn, tiêu chuẩn chặt chẽ hơn sẽ hỗ trợ quá trình phân hóa tín dụng, tạo lợi thế cho doanh nghiệp có báo cáo tài chính tốt, tài sản bảo đảm rõ ràng và khả năng trả nợ bằng dòng tiền thực.
GDP sáu tháng đầu năm tăng 8,18%, trong khi CPI bình quân tăng 4,38% và lạm phát cơ bản tăng 4,12%. Bối cảnh vĩ mô này đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa chính sách tiền tệ và các biện pháp điều tiết ngân sách và thuế của nhà nước. Tăng trưởng cao hỗ trợ chất lượng tín dụng, nhưng lạm phát quanh vùng mục tiêu làm giảm dư địa nới lỏng tiền tệ mạnh.
Xuất khẩu sáu tháng đạt $266,52 tỷ, còn nhập khẩu đạt $283,17 tỷ, tạo thâm hụt thương mại $16,65 tỷ. FDI đăng ký đạt $34,65 tỷ và vốn thực hiện đạt khoảng $13,03 tỷ. Nhập khẩu tăng nhanh có thể phản ánh nhu cầu máy móc và nguyên liệu cho sản xuất, nhưng cũng làm tăng cầu ngoại tệ và độ nhạy của chính sách tiền tệ với tỷ giá.
Số liệu tín dụng cần được đọc theo thời điểm. Báo cáo trái phiếu sử dụng mức tăng 7,73% vào cuối tháng, trong khi thống kê đến ngày 26/06 ghi nhận 7,41%. Chênh lệch này có thể đến từ ngày chốt dữ liệu, không nhất thiết là mâu thuẫn phương pháp.
Lợi suất TPCP khó giảm bền vững nếu Kho bạc Nhà nước tăng mạnh phát hành, tín dụng tiếp tục mở rộng và lạm phát cơ bản duy trì trên 4%. Khu vực 10 đến 15 năm có thể tiếp tục là tâm điểm vì vừa chiếm tỷ trọng phát hành lớn, vừa có thanh khoản thứ cấp cao. Ngoài ra, xu hướng này cũng làm thay đổi phân bổ tài sản của nhà đầu tư, thể hiện sự tương tác giữa thị trường nợ và thị trường vốn trong nền kinh tế vĩ mô.
Đối với TPDN, thanh khoản có thể cải thiện nhưng khả năng phát hành sẽ phân hóa mạnh. Trái phiếu ngân hàng, doanh nghiệp đầu ngành và lô có tài sản bảo đảm chất lượng cao nhiều khả năng tiếp tục chiếm ưu thế. Lợi suất cao sẽ không đủ hấp dẫn nếu cấu trúc dòng tiền và quyền của trái chủ thiếu rõ ràng.
Lợi suất tăng làm giá trái phiếu đang lưu hành giảm, đặc biệt với kỳ hạn dài. Đồng thời, chi phí huy động mới của Chính phủ tăng và tạo mức tham chiếu cao hơn cho trái phiếu ngân hàng, doanh nghiệp cùng các khoản vay dài hạn.
Giao dịch thứ cấp phản ánh nhu cầu mua bán tài sản đã tồn tại, còn phát hành sơ cấp phụ thuộc vào khả năng chấp nhận rủi ro mới. Nhà đầu tư có thể giao dịch tích cực nhưng vẫn thận trọng với tổ chức phát hành chưa có chất lượng tín dụng đủ mạnh.
Mua lại có thể giúp giảm nợ và củng cố niềm tin, nhưng cũng có thể chỉ là một phần của quá trình tái cấp vốn. Cần xem nguồn tiền mua lại đến từ dòng tiền kinh doanh, bán tài sản hay phát hành nghĩa vụ mới.
Rủi ro chính là sự hội tụ của nguồn cung TPCP tăng, lãi suất tham chiếu cao, trái phiếu doanh nghiệp đáo hạn lớn và nhu cầu vốn ngân hàng mở rộng. Tổ chức phát hành phụ thuộc vào tái cấp vốn sẽ chịu áp lực rõ nhất.
Báo cáo thị trường trái phiếu tháng 6/2026 cho thấy thanh khoản đã cải thiện, nhưng chi phí vốn và rủi ro tái cấp vốn chưa giảm tương ứng. Trái phiếu Chính phủ bước vào giai đoạn phải tăng tốc phát hành, còn thị trường doanh nghiệp tiếp tục tập trung vào các tổ chức lớn.
Nửa cuối năm sẽ là giai đoạn thị trường phân loại chất lượng tín dụng quyết liệt hơn. Lợi suất, tài sản bảo đảm và quy mô phát hành vẫn quan trọng, nhưng dòng tiền trả nợ, minh bạch thông tin và khả năng tiếp cận thanh khoản mới là những yếu tố quyết định.