Đăng vào: 2026-06-12
Lãi suất ngân hàng hôm nay tiếp tục phân hóa rõ giữa kênh online và tại quầy, với cạnh tranh tập trung ở kỳ hạn 6 đến 12 tháng. Điểm nổi bật trong ngày là ACB điều chỉnh mạnh lãi suất trực tuyến, đưa kỳ hạn 6 tháng lên 7,1%/năm, 9 tháng lên 7,2%/năm và 12 tháng lên 7,3%/năm.
Diễn biến này đáng chú ý vì kỳ hạn dưới 6 tháng vẫn chịu trần lãi suất, trong khi lạm phát bình quân 5 tháng đầu năm tăng 4,31% và tỷ giá trung tâm ở mức 25.155 VND/USD ngày 12/06/2026. Người gửi tiền không chỉ cần nhìn mức lãi suất niêm yết, mà còn phải tính lãi thực, điều kiện rút trước hạn và nhu cầu thanh khoản cá nhân.

Kỳ hạn dưới 6 tháng vẫn bị khống chế bởi trần lãi suất VND: không kỳ hạn và dưới 1 tháng tối đa 0,5%/năm, từ 1 tháng đến dưới 6 tháng tối đa 4,75%/năm. Kỳ hạn từ 6 tháng trở lên do ngân hàng ấn định theo cung cầu vốn.
Kênh online đang là vùng cạnh tranh mạnh nhất. ACB, VIB, PGBank, MBV, LPBank, OCB, MSB, BVBank và một số ngân hàng khác đang có mức 12 tháng từ 6,8% đến trên 7%/năm ở một số sản phẩm trực tuyến.
Nhóm Big 4 vẫn có mặt bằng thấp hơn phần lớn ngân hàng tư nhân. Vietcombank niêm yết kỳ hạn 12 tháng ở mức 5,9%/năm và 24 tháng ở mức 6,0%/năm trên bảng công khai.
Kỳ hạn 6 đến 12 tháng là vùng đáng theo dõi nhất. Đây là nhóm kỳ hạn đủ dài để vượt trần dưới 6 tháng, đảm bảo khả năng thanh khoản linh hoạt mà không khóa tiền quá lâu như kỳ hạn 18 đến 24 tháng.
Các mức lãi suất cao cần kiểm tra điều kiện đi kèm. Có mức chỉ áp dụng cho online, khách hàng mới, số tiền lớn hoặc sản phẩm tiền gửi đặc thù.
Tất toán trước hạn là rủi ro thường bị bỏ qua. VIB công bố trường hợp tất toán trước hạn hưởng lãi suất không kỳ hạn 0,1%/năm đối với VND.
Trong 1 đến 4 tuần tới, lãi suất có thể tiếp tục phân hóa thay vì tăng đồng loạt. Thanh khoản liên ngân hàng, tỷ giá và áp lực vốn trung dài hạn sẽ quyết định ngân hàng nào còn tăng lãi suất huy động.
Đơn vị: %/năm, tiền gửi VND, lĩnh lãi cuối kỳ. “N/C” nghĩa là chưa có dữ liệu công khai đủ rõ tại thời điểm cập nhật.
| Ngân hàng | 1 tháng | 3 tháng | 6 tháng | 9 tháng | 12 tháng | 18 tháng | 24 tháng | Hình thức | Ghi chú |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| HLBank | 4,6 | 4,75 | 7,6 | N/C | 7,7 | N/C | N/C | Online | Nhóm cao nhất bảng tổng hợp |
| ACB | 4,75 | 4,75 | 7,1 | 7,2 | 7,3 | N/C | N/C | Online | Tăng mạnh ngày 12/06 |
| MBV | 4,5 | 4,75 | 6,5 | N/C | 7,0 | 7,0 | 7,0 | Online | Kỳ hạn dài nổi bật |
| PGBank | 4,75 | 4,75 | 6,9 | N/C | 7,0 | 6,8 | 6,8 | Online | 12 tháng đạt 7,0 |
| VIB | 4,75 | 4,75 | 5,7 | N/C | 7,0 | 5,9 | 6,0 | Online | 12 tháng cao nhất tại VIB |
| LPBank | 4,6 | 4,65 | 6,8 | N/C | 6,9 | 7,0 | 6,2 | Online | 18 tháng đạt 7,0 |
| BVBank | 4,75 | 4,75 | 6,7 | N/C | 6,9 | 6,7 | 6,7 | Online | Cao ở 6 đến 12 tháng |
| OCB | 4,75 | 4,75 | 6,5 | N/C | 6,8 | 6,7 | 6,9 | Online | 24 tháng cao hơn 12 tháng |
| MSB | 4,75 | 4,75 | 6,3 | N/C | 6,8 | 6,6 | 6,6 | Online | 12 tháng cạnh tranh |
| BIDV | 4,75 | 4,75 | 6,6 | N/C | 6,8 | 6,8 | 6,8 | Online | Cần kiểm tra lại trên app trước giao dịch |
| Techcombank | 4,35 | 4,65 | 6,55 | N/C | 6,75 | 5,85 | 5,85 | Online | Chênh rõ so với tại quầy |
| Bảo Việt Bank | 4,75 | 4,75 | 6,6 | N/C | 6,7 | 6,7 | 6,7 | Online | Nhóm kỳ hạn trung dài |
| Nam A Bank | 4,6 | 4,75 | 6,4 | N/C | 6,6 | 6,9 | 6,9 | Online | 18 đến 24 tháng cao hơn 12 tháng |
| Sacombank | 4,5 | 4,5 | 6,4 | N/C | 6,6 | 6,6 | 6,9 | Online | 24 tháng nổi bật |
| SHB | 4,6 | 4,65 | 6,2 | N/C | 6,5 | 6,6 | 6,7 | Online | Tăng dần ở kỳ hạn dài |
| VCBNeo | 4,75 | 4,75 | 6,5 | N/C | 6,5 | 6,5 | 6,5 | Online | Mặt bằng đều |
| TPBank | 4,75 | 4,75 | 6,0 | N/C | 6,2 | 6,2 | 6,3 | Online | Kỳ hạn dài nhỉnh hơn |
| Vietbank | 4,6 | 4,6 | 5,9 | N/C | 6,1 | 6,4 | 6,4 | Online | 18 đến 24 tháng cao hơn |
| VPBank | 4,45 | 4,65 | 5,8 | N/C | 6,1 | 6,0 | 6,0 | Tại quầy | Cần đối chiếu app online |
| Vietcombank | 2,1 | 2,4 | 3,5 | 3,5 | 5,9 | N/C | 6,0 | Công khai | Big 4, mặt bằng thấp hơn tư nhân |
| VietinBank | 2,1 | 2,4 | 3,5 | N/C | 5,9 | 5,9 | 6,0 | Công khai | Big 4 |
| Agribank | 2,6 | 2,9 | 4,0 | N/C | 5,9 | 5,9 | 6,0 | Công khai | Big 4 |
| VIB | 4,75 | 4,75 | 5,5 | 5,6 | 6,5 | 5,7 | 6,0 | Tại quầy | Online cao hơn ở 12 tháng |
| ACB | 4,0 | 4,4 | 4,5 | 4,7 | 5,3 | 5,4 | 5,4 | Tại quầy | Thấp hơn online đáng kể |
Dữ liệu được tổng hợp từ biểu lãi suất niêm yết công khai, bảng công bố của ngân hàng và dữ liệu thị trường cập nhật lúc 10:48, ngày 12/06/2026. Các mức trong bảng có thể thay đổi theo khu vực, số tiền gửi, kênh giao dịch và chính sách từng ngân hàng.
Ở kỳ hạn 1 đến 3 tháng, mức đáng chú ý nhất là 4,75%/năm. Đây không phải vùng ngân hàng tự do cạnh tranh hoàn toàn, vì trần lãi suất VND từ 1 tháng đến dưới 6 tháng đang ở mức 4,75%/năm. Người gửi chọn kỳ hạn ngắn chủ yếu vì linh hoạt dòng tiền, không phải vì tối ưu lợi suất.
Ở kỳ hạn 6 tháng, mức cao trong bảng thuộc về HLBank online 7,6%/năm, ACB online 7,1%/năm, PGBank 6,9%/năm, LPBank 6,8%/năm và BVBank 6,7%/năm. Kỳ hạn này phù hợp với người có dòng tiền nhàn rỗi nửa năm nhưng vẫn muốn tránh khóa vốn quá dài.
Ở kỳ hạn 9 đến 12 tháng, cạnh tranh rõ nhất nằm ở kỳ hạn 12 tháng. HLBank online đạt 7,7%/năm trong bảng tổng hợp, ACB online đạt 7,3%/năm, trong khi VIB, PGBank và MBV đạt 7,0%/năm ở sản phẩm trực tuyến hoặc kỳ hạn tương ứng. Đây là vùng nên theo dõi sát vì chênh lệch 1 điểm phần trăm trên khoản gửi lớn tạo khác biệt đáng kể.
Ở kỳ hạn 18 đến 24 tháng, mức 7,0%/năm xuất hiện tại LPBank, MB Bank hoặc MBV tùy sản phẩm và kỳ hạn. Tuy nhiên, kỳ hạn dài chỉ phù hợp với khoản tiền ít khả năng cần dùng trước hạn. Nếu tất toán sớm, phần lãi thực nhận có thể giảm mạnh do áp dụng lãi không kỳ hạn.

Gửi online đang có lợi thế rõ ở nhiều ngân hàng. ACB là ví dụ nổi bật khi lãi suất online 12 tháng đạt 7,3%/năm, cao hơn mức tại quầy 5,3%/năm ở cùng kỳ hạn. Khoảng cách 2 điểm phần trăm này tương đương 2 triệu đồng mỗi năm cho mỗi 100 triệu đồng tiền gửi.
VIB cũng cho thấy cùng một xu hướng. Lãi suất online 12 tháng đạt 7,0%/năm, trong khi mức cao nhất tại quầy là 6,5%/năm cho kỳ hạn 1 năm. Chênh lệch không lớn như ACB, nhưng vẫn đủ quan trọng với khoản tiền vài trăm triệu đến vài tỷ đồng.
Tại quầy vẫn có vai trò riêng. Người gửi số tiền lớn, cần tư vấn trực tiếp, muốn xác nhận điều khoản hoặc chưa quen giao dịch số có thể ưu tiên chi nhánh. Điểm cần kiểm tra là mức tiền gửi tối thiểu, phương thức nhận lãi, điều kiện khách hàng mới và chính sách tất toán trước hạn.
Công thức tính minh họa:
Tiền lãi = Số tiền gửi x lãi suất năm x số tháng gửi / 12
Bảng dưới đây dùng mức cao đã xuất hiện trong bảng chính: 6 tháng ở 7,6%/năm, 12 tháng ở 7,7%/năm, 24 tháng ở 7,0%/năm. Đây là tính toán trước khi xét điều kiện riêng của từng ngân hàng.
| Số tiền gửi | 6 tháng, 7,6%/năm | 12 tháng, 7,7%/năm | 24 tháng, 7,0%/năm |
|---|---|---|---|
| 100 triệu đồng | 3,8 triệu đồng | 7,7 triệu đồng | 14 triệu đồng |
| 300 triệu đồng | 11,4 triệu đồng | 23,1 triệu đồng | 42 triệu đồng |
| 1 tỷ đồng | 38 triệu đồng | 77 triệu đồng | 140 triệu đồng |
Bảng này cho thấy kỳ hạn và mức lãi suất tạo chênh lệch rất lớn khi số tiền gửi tăng, giúp người tiết kiệm tăng trưởng tài sản qua thời gian hiệu quả hơn. Với 1 tỷ đồng, chênh lệch giữa 5,9% và 7,7% ở kỳ hạn 12 tháng là 18 triệu đồng mỗi năm. Tuy nhiên, lợi suất cao chỉ có ý nghĩa nếu người gửi đáp ứng đúng điều kiện và không phải rút trước hạn.
Nguyên nhân đầu tiên là cấu trúc trần lãi suất. Khi kỳ hạn dưới 6 tháng bị giới hạn ở 4,75%/năm, cạnh tranh buộc phải dịch chuyển sang kỳ hạn 6 tháng trở lên. Đây là lý do các ngân hàng đẩy mạnh ưu đãi ở 6, 9 và 12 tháng thay vì tăng đồng loạt toàn bộ biểu lãi suất.
Nguyên nhân thứ hai là thanh khoản. Dữ liệu thị trường tiền tệ tuần 01 đến 05/06 cho thấy lãi suất liên ngân hàng có thời điểm tăng mạnh, trong khi Ngân hàng Nhà nước phải điều tiết qua cơ chế can thiệp cung tiền và công cụ thanh khoản. Khi chi phí vốn ngắn hạn biến động, một số ngân hàng có xu hướng giữ tiền gửi dân cư bằng lãi suất online hấp dẫn hơn.
Nguyên nhân thứ ba là tỷ giá và lạm phát. CPI bình quân 5 tháng tăng 4,31% khiến lãi suất thực của kỳ hạn ngắn trở nên mỏng hơn. Tỷ giá trung tâm 25.155 VND/USD cũng làm dư địa giảm lãi suất bị hạn chế, vì lãi suất VND quá thấp có thể làm dòng tiền nhạy cảm hơn với ngoại tệ và vàng.
Yếu tố quốc tế cũng không thể bỏ qua. Cục Dự trữ Liên bang Mỹ giữ lãi suất mục tiêu ở 3,50% đến 3,75% tại cuộc họp ngày 29/04, trong khi ECB tăng 25 điểm cơ bản, đưa lãi suất tiền gửi lên 2,25% từ ngày 17/06. Mặt bằng lãi suất quốc tế cao làm chính sách tiền tệ trong nước khó nới lỏng quá nhanh nếu tỷ giá còn nhạy cảm.
Nếu cần tiền trong 1 đến 3 tháng, kỳ hạn ngắn vẫn phù hợp hơn dù lãi suất không vượt trần. Mục tiêu chính là giữ thanh khoản và tránh phải tất toán sớm khoản gửi dài hạn.
Nếu có dòng tiền nhàn rỗi 6 tháng, đây là vùng cân bằng giữa lãi suất và linh hoạt. Một số ngân hàng đang trả trên 6,5%/năm cho kỳ hạn này, cao hơn đáng kể so với nhóm Big 4 truyền thống.
Nếu muốn tối ưu lãi suất 12 tháng, người gửi cần so sánh kỹ kênh online. Khoảng cách giữa ngân hàng trả 5,9% và ngân hàng trả trên 7% có thể lớn hơn nhiều so với cảm nhận ban đầu, đặc biệt với khoản tiền từ 300 triệu đồng trở lên.
Nếu có tiền dài hạn 18 đến 24 tháng, cần cân nhắc rủi ro lãi suất đảo chiều. Nếu lãi suất tiếp tục tăng, khoản tiền đã khóa ở mức cũ sẽ mất cơ hội. Nếu lãi suất giảm, kỳ hạn dài lại giúp bảo toàn mức lãi tốt hơn.
Cách thực tế hơn là chia nhỏ sổ tiết kiệm. Thay vì gửi toàn bộ vào một kỳ hạn, người gửi có thể chia thành nhiều khoản 3 tháng, 6 tháng và 12 tháng. Cách này giúp giảm rủi ro phải rút toàn bộ trước hạn khi phát sinh nhu cầu tiền mặt.
Tiền gửi ngân hàng vẫn phù hợp với phần vốn ưu tiên an toàn, ổn định và thanh khoản. Mức lãi suất 7%/năm trở lên giúp tiền gửi cạnh tranh hơn so với giai đoạn lãi suất thấp, nhưng không thay thế hoàn toàn các kênh đầu tư khác.
Vàng, ngoại tệ, trái phiếu, các hình thức đầu tư cổ phiếu và giao dịch tài chính toàn cầu có đặc điểm rủi ro khác nhau. Vàng và ngoại tệ chịu tác động trực tiếp từ tỷ giá, lãi suất quốc tế và địa chính trị. Chứng khoán phản ứng với lợi nhuận doanh nghiệp và chi phí vốn. Trái phiếu phụ thuộc vào chất lượng tổ chức phát hành, kỳ hạn và thanh khoản thứ cấp.
Trong bối cảnh lãi suất, tỷ giá và giá vàng biến động mạnh hơn, nhà đầu tư cần một nền tảng giúp theo dõi thị trường toàn cầu theo thời gian thực. EBC cung cấp môi trường giao dịch chuyên nghiệp cho các sản phẩm tài chính quốc tế. Nhà đầu tư có thể mở tài khoản giao dịch tại EBC để tiếp cận dữ liệu thị trường, quản trị rủi ro và xây dựng chiến lược phù hợp hơn. Giao dịch tài chính có rủi ro và cần được quản trị vốn chặt chẽ.
Trong bảng cập nhật, mức cao nổi bật ở kênh online là 7,7%/năm tại kỳ hạn 12 tháng của HLBank. ACB ghi nhận 7,3%/năm kỳ hạn 12 tháng online, còn VIB, PGBank và MBV có mức 7,0%/năm ở một số kỳ hạn.
Có, tại nhiều ngân hàng. ACB và VIB là hai ví dụ rõ ràng trong ngày 12/06. Online thường có chi phí vận hành thấp hơn, nên ngân hàng có thể trả lãi cao hơn. Tuy nhiên, người gửi vẫn cần kiểm tra điều kiện áp dụng và tất toán trước hạn.
Kỳ hạn 12 tháng đang là vùng cạnh tranh mạnh nhất vì nhiều ngân hàng đưa lãi suất lên quanh 6,8% đến 7,7%/năm. Kỳ hạn 6 tháng cũng hấp dẫn với người cần cân bằng giữa sinh lời và thanh khoản.
Nhóm Big 4 thường không dẫn đầu về lãi suất huy động. Vietcombank, VietinBank và Agribank đang có mức 12 tháng quanh 5,9%/năm trong dữ liệu công khai, thấp hơn nhiều ngân hàng tư nhân đang cạnh tranh mạnh ở kênh online.
Không nên chỉ nhìn mức lãi suất cao rồi gửi toàn bộ vào kỳ hạn dài. Người gửi cần giữ một phần tiền ngắn hạn cho nhu cầu khẩn cấp, chia nhỏ sổ tiết kiệm và kiểm tra kỹ quy định rút trước hạn để tránh mất phần lớn tiền lãi.
Lãi suất ngân hàng hôm nay không tăng đồng loạt, nhưng cạnh tranh ở kỳ hạn 6 đến 12 tháng đang rõ hơn, đặc biệt trên kênh online. ACB, VIB, PGBank, MBV, LPBank, BVBank, OCB và một số ngân hàng khác đang tạo ra khoảng cách đáng kể so với mặt bằng Big 4.
Người gửi tiền nên chọn ngân hàng và kỳ hạn dựa trên 4 yếu tố: lãi suất thực sau lạm phát, nhu cầu thanh khoản, điều kiện tất toán trước hạn và độ an toàn của kênh giao dịch. Mức lãi cao là điểm khởi đầu, nhưng quyết định gửi tiền hiệu quả phải đi kèm kỹ năng kiểm soát rủi ro dòng tiền bắt đầu từ nhu cầu tài chính cá nhân.