Đăng vào: 2026-07-15
Cập nhật vào: 2026-07-15
Thông tin về mặt bằng lãi suất ngân hàng ngày 15/7 ghi nhận 15 ngân hàng niêm yết 4,75%/năm cho kỳ hạn 1 tháng, đúng mức trần hiện hành với tiền gửi VND từ 1 tháng đến dưới 6 tháng. Ở kỳ hạn dài hơn, nơi các ngân hàng được tự định giá theo cung cầu vốn, mức online phổ thông cao nhất đã lên 7,1%/năm ở kỳ hạn 6 tháng và 7,3%/năm ở kỳ hạn 12 tháng.
Mức cao nhất trên thị trường cần được đọc cùng điều kiện áp dụng. PVcomBank niêm yết 10%/năm cho kỳ hạn 12 và 13 tháng tại quầy, nhưng chỉ áp dụng với tiền gửi mới từ 2.000 tỷ đồng trở lên; khách hàng dưới ngưỡng này nhận 5,3% đến 5,5%/năm tại cùng kỳ hạn. Vấn đề cốt lõi không chỉ là ngân hàng nào trả cao nhất, mà là lãi suất nào thực nhận, ai đủ điều kiện và vì sao chi phí vay vẫn khó giảm.

15 ngân hàng niêm yết 4,75%/năm cho kỳ hạn 1 tháng, gồm nhóm Big 4 và nhiều ngân hàng thương mại cổ phần. Đây là mức trần với tiền gửi VND kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng, nên khoảng cạnh tranh thực sự nằm ở các kỳ hạn 6 tháng trở lên.
ACB dẫn đầu nhóm lãi suất online phổ thông trong bảng ngày 15/7 với 7,1%/năm kỳ hạn 6 tháng và 7,3%/năm kỳ hạn 12 tháng. Bac A Bank theo sát ở mức 7,05%/năm cho 6 tháng và 7,1%/năm cho 12 tháng.
Nhóm Big 4 gồm Agribank, BIDV, Vietcombank và VietinBank cùng niêm yết 4,75%/năm ở kỳ hạn 1 và 3 tháng, 6,6%/năm ở kỳ hạn 6 tháng, 6,8%/năm ở kỳ hạn 12 và 18 tháng trong bảng online ngày 15/7. Khoảng cách với nhóm dẫn đầu ở kỳ hạn 12 tháng là 0,5 điểm %.
Mặc dù lãi suất huy động có nhiều biến động, chi phí đi vay thực tế chưa giảm tương ứng vì chi phí vốn của ngân hàng vẫn cao. Agribank công bố lãi suất cho vay bình quân tháng 5/2026 là 8,63%/năm, trong khi chi phí vốn bình quân đạt 7,16%/năm. BIDV công bố lãi suất cho vay bình quân 6,96%/năm, nhưng chênh lệch sau chi phí liên quan huy động và sử dụng vốn chỉ còn 1,57 điểm %.
Đơn vị: %/năm. Bảng dưới đây dùng dữ liệu online ngày 15/7, chọn các ngân hàng dẫn đầu, nhóm Big 4 và một số ngân hàng đại diện cho mặt bằng chung.
| Ngân hàng | 1 tháng | 3 tháng | 6 tháng | 12 tháng | 18 tháng | Hình thức | Điều kiện đáng chú ý |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| ACB | 4,75 | 4,75 | 7,10 | 7,30 | Chưa công bố | Online | Dẫn đầu 6 và 12 tháng trong bảng |
| Bac A Bank | 4,75 | 4,75 | 7,05 | 7,10 | 6,95 | Online | Nhóm cao nhất kỳ hạn 6 đến 12 tháng |
| Saigonbank | 4,75 | 4,75 | 6,90 | 7,20 | 7,00 | Online | Cao ở kỳ hạn 12 và 18 tháng |
| PGBank | 4,75 | 4,75 | 6,90 | 7,00 | 6,80 | Online | Cao hơn mặt bằng trung vị ở kỳ hạn dài |
| VCBNeo | 4,75 | 4,75 | 7,00 | 7,00 | 7,00 | Online | Đồng đều từ 6 đến 18 tháng |
| MBV | 4,60 | 4,75 | 7,00 | 7,00 | 7,00 | Online | Cao ở nhóm kỳ hạn trung dài |
| Agribank | 4,75 | 4,75 | 6,60 | 6,80 | 6,80 | Online | Nhóm Big 4 |
| BIDV | 4,75 | 4,75 | 6,60 | 6,80 | 6,80 | Online | Nhóm Big 4 |
| Vietcombank | 4,75 | 4,75 | 6,60 | 6,80 | 6,80 | Online | Nhóm Big 4 |
| VietinBank | 4,75 | 4,75 | 6,60 | 6,80 | 6,80 | Online | Nhóm Big 4 |
| Techcombank | 4,35 | 4,65 | 6,55 | 6,75 | 5,85 | Online | 12 tháng cao hơn 18 tháng |
| LPBank | 4,60 | 4,65 | 6,80 | 6,90 | 6,95 | Online | 18 tháng thuộc nhóm cao |
| TPBank | 4,75 | 4,75 | 6,05 | 6,25 | 6,25 | Online | Chạm trần kỳ hạn ngắn |
| PVcomBank | 4,75 | 4,75 | 5,30 | 5,60 | 6,30 | Online | Tách biệt với lãi suất đặc biệt tại quầy |
| SCB | 1,60 | 1,90 | 2,90 | 3,70 | 3,90 | Online | Thấp nhất trong bảng ngày 15/7 |
Nguồn bảng lãi suất online ngày 15/7 cho thấy độ phân hóa rất rộng: kỳ hạn 12 tháng dao động từ 3,7% đến 7,3%/năm, tức chênh 3,6 điểm %. Ở kỳ hạn 6 tháng, khoảng chênh là 4,2 điểm %, từ 2,9% đến 7,1%/năm.
Nếu chỉ tính lãi suất online phổ thông trong bảng ngày 15/7, ACB dẫn đầu kỳ hạn 6 tháng với 7,1%/năm và kỳ hạn 12 tháng với 7,3%/năm. Ở kỳ hạn 18 tháng, Saigonbank, VCBNeo và MBV cùng đạt 7,0%/năm.
Nếu tính nhóm đặc biệt, thứ hạng thay đổi mạnh. PVcomBank công bố mức 10%/năm cho kỳ hạn 12 và 13 tháng tại quầy, nhưng điều kiện là khoản tiền gửi mới từ 2.000 tỷ đồng trở lên. Vì vậy, mức này không nên được so sánh trực tiếp với lãi suất tiết kiệm phổ thông dành cho phần lớn người gửi tiền.
Với nhóm Big 4, Agribank, BIDV, Vietcombank và VietinBank có cấu trúc tương đồng trong bảng online: 4,75%/năm ở kỳ hạn 1 và 3 tháng, 6,6%/năm ở kỳ hạn 6 tháng, 6,8%/năm ở kỳ hạn 12 và 18 tháng. Đây không phải mức cao nhất thị trường, nhưng tạo neo tham chiếu quan trọng vì quy mô huy động lớn và tệp khách hàng rộng.
Giả định tiền gửi lĩnh lãi cuối kỳ, không rút trước hạn và không nhập gốc giữa kỳ.
| Kịch bản | Lãi suất | Tiền lãi với 100 triệu đồng | Tiền lãi với 500 triệu đồng |
|---|---|---|---|
| Gửi 6 tháng tại 7,05%/năm | 7,05% | 3,525 triệu đồng | 17,625 triệu đồng |
| Gửi 12 tháng tại 7,3%/năm | 7,3% | 7,300 triệu đồng | 36,500 triệu đồng |
| Gửi 18 tháng tại 7,0%/năm | 7,0% | 10,500 triệu đồng | 52,500 triệu đồng |
Công thức tính là: tiền lãi bằng số tiền gửi nhân lãi suất năm nhân số tháng gửi, chia 12. Với người gửi tiền phổ thông đang tìm hiểu cách tối ưu khoản tiền tích trữ ngân hàng, bảng này hữu ích hơn việc chỉ nhìn con số %/năm, vì kỳ hạn dài hơn có thể tạo tiền lãi tuyệt đối lớn hơn dù lãi suất danh nghĩa không cao hơn nhiều.
Báo cáo cho thấy chỉ số giá tiêu dùng bình quan 6 tháng năm 2026 tăng 4,38%. Nếu dùng công thức chính xác, lãi suất thực của khoản gửi 12 tháng ở mức 7,3%/năm vào khoảng 2,80%. Với mức 6,8%/năm của nhóm Big 4, lãi suất thực vào khoảng 2,32%.
Điều này cho thấy tiền gửi ngân hàng vẫn tạo lợi suất thực dương nếu lạm phát không tăng thêm. Nhưng phần bù sau lạm phát không quá dày. Người gửi tiền vẫn cần so sánh với thanh khoản cá nhân, rủi ro rút trước hạn và cơ hội ở các kênh tài sản khác.
Lãi suất điều hành vẫn ở vùng hỗ trợ tăng trưởng: tái cấp vốn 4,5%/năm, tái chiết khấu 3,0%/năm và lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán liên ngân hàng 5,0%/năm. Tuy vậy, lãi suất thị trường không chỉ phụ thuộc vào lãi suất điều hành.
Áp lực đầu tiên đến từ sự bùng nổ nhu cầu vay vốn khi các ngân hàng được nới rộng hạn mức cho vay của hệ thống. Đến 29/6/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống vượt 20,03 triệu tỷ đồng, tăng 7,73% so với cuối năm 2025. Khi tín dụng tăng nhanh, ngân hàng cần nguồn vốn kỳ hạn ổn định hơn để đáp ứng nhu cầu cho vay mới và duy trì tỷ lệ an toàn thanh khoản.
Áp lực thứ hai nằm ở cơ cấu tiền gửi. Tiền gửi dân cư tháng 4/2026 đạt hơn 10,718 triệu tỷ đồng, tăng 3,71% so với cuối năm trước, nhưng tiền gửi của tổ chức kinh tế đạt hơn 6,074 triệu tỷ đồng và vẫn giảm 1,71%. Dòng tiền doanh nghiệp giảm so với đầu năm làm nguồn vốn chi phí thấp kém dồi dào hơn, trong khi tín dụng vẫn mở rộng.
Áp lực thứ ba thể hiện ở thanh khoản liên ngân hàng. Trong tuần 29/6 đến 3/7/2026, lãi suất VND qua đêm trên thị trường liên ngân hàng bình quân tăng 2,97 điểm % lên 7,23%/năm. Khi chi phí vay mượn ngắn hạn giữa các ngân hàng tăng, hệ thống có thêm lý do để cạnh tranh huy động ở kỳ hạn từ 6 tháng trở lên.
Từ đó, lãi suất cho vay khó giảm nhanh. Agribank công bố chi phí vốn bình quân tháng 5/2026 là 7,16%/năm, trong đó lãi suất huy động bình quân 5,21%/năm và chi phí khác 1,95%/năm. BIDV cũng cho thấy biên sau chi phí chỉ còn 1,57 điểm %, một mức không rộng nếu ngân hàng vẫn phải trích lập, kiểm soát rủi ro và duy trì thanh khoản.
Người cần tiền trong 3 đến 6 tháng nên ưu tiên kỳ hạn phù hợp dòng tiền hơn là chạy theo mức cao nhất. Rút trước hạn thường khiến khoản tiền chỉ được hưởng lãi không kỳ hạn hoặc mức rất thấp, làm mất phần lớn lợi ích kỳ hạn.
Người có tiền nhàn rỗi trên 12 tháng có thể so sánh nhóm 12 đến 18 tháng, vì đây là vùng đang có cạnh tranh tốt hơn. Tuy nhiên, mức đặc biệt cần được tách khỏi mức phổ thông. Một con số 9% hoặc 10% không có nhiều ý nghĩa nếu điều kiện gửi tiền nằm ngoài khả năng của khách hàng thông thường.
Người vay mua nhà cần nhìn qua giai đoạn ưu đãi ban đầu. Lãi suất vay ngân hàng sau ưu đãi thường áp dụng cơ chế lãi suất thay đổi theo thị trường cộng biên độ. Khi chi phí vốn chưa giảm rõ, khoản vay dài hạn có thể trở nên đắt hơn dự tính nếu chỉ tính theo 6 đến 12 tháng đầu.
Doanh nghiệp cần tái cấp vốn nên theo dõi cả lãi suất huy động, lãi suất liên ngân hàng và tốc độ tăng tín dụng. Khi các biến số này cùng tăng, khả năng giảm sâu lãi suất cho vay sẽ bị hạn chế, đặc biệt với doanh nghiệp có tài sản bảo đảm yếu hoặc dòng tiền không ổn định.
Trong bảng online ngày 15/7, ACB có mức phổ thông cao nhất ở kỳ hạn 12 tháng với 7,3%/năm. Nếu tính lãi suất đặc biệt, PVcomBank niêm yết 10%/năm cho kỳ hạn 12 và 13 tháng tại quầy, nhưng yêu cầu tiền gửi mới từ 2.000 tỷ đồng trở lên.
Nếu gửi 100 triệu đồng trong 12 tháng với lãi suất 7,3%/năm và lĩnh lãi cuối kỳ, tiền lãi là 7,3 triệu đồng. Nếu mức lãi là 6,8%/năm, tiền lãi là 6,8 triệu đồng. Kết quả thay đổi nếu sản phẩm nhập gốc hoặc lĩnh lãi định kỳ.
Nhiều ngân hàng trả lãi suất online cao hơn tại quầy để giảm chi phí vận hành và khuyến khích giao dịch số. Tuy nhiên, điều này không đúng với mọi sản phẩm. Một số mức đặc biệt tại quầy vẫn rất cao nhưng thường đi kèm điều kiện tiền gửi lớn.
Các mức 9% đến 10% thường không phải lãi suất tiết kiệm phổ thông. Ví dụ, PVcomBank niêm yết 10%/năm cho kỳ hạn 12 và 13 tháng, nhưng chỉ áp dụng với tiền gửi mới tại quầy từ 2.000 tỷ đồng trở lên. Người gửi cần kiểm tra điều kiện trước khi so sánh.
Phần lớn khoản tiền gửi rút trước hạn không còn được hưởng lãi suất kỳ hạn ban đầu. Ngân hàng thường áp dụng lãi suất không kỳ hạn hoặc mức thấp hơn theo quy định sản phẩm. Vì vậy, chọn kỳ hạn sai có thể làm lợi suất thực nhận giảm mạnh.
Không nhất thiết. Lãi suất điều hành ảnh hưởng đến chi phí vốn, nhưng lãi suất cho vay còn phụ thuộc huy động, thanh khoản liên ngân hàng, rủi ro tín dụng, chi phí hoạt động và biên lãi của từng ngân hàng. Khi tín dụng tăng nhanh hơn nguồn vốn ổn định, lãi vay thường giảm chậm.
Lãi suất ngân hàng ngày 15/7 cho thấy thị trường đang phân tầng rõ. Kỳ hạn ngắn chịu giới hạn bởi trần 4,75%/năm, trong khi kỳ hạn 6 đến 12 tháng trở thành vùng cạnh tranh chính với mức phổ thông cao nhất 7,1% đến 7,3%/năm.
Người gửi tiền nên nhìn vào lãi thực nhận, kỳ hạn và điều kiện áp dụng thay vì chỉ nhìn mức cao nhất. Người vay cần theo dõi chi phí vốn, tăng trưởng tín dụng và thanh khoản liên ngân hàng, vì đây là những biến số quyết định tốc độ giảm của lãi suất cho vay trong thời gian tới.